Đề xuất vay tới 8 triệu đồng/tháng: Gỡ áp lực tài chính cho sinh viên
Bộ Tài chính đang đề xuất nâng mức cho vay tối đa đối với học sinh, sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng/tháng. Trong bối cảnh học phí và chi phí sinh hoạt tăng, đề xuất được kỳ vọng tạo thêm điểm tựa để người học duy trì việc học, nhất là sinh viên phải xa nhà.
Thêm dư địa để sinh viên yên tâm học tập
Theo dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với HSSV, Bộ Tài chính đề xuất nâng mức vốn vay tối đa từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng/tháng/người học. Khoản vay được sử dụng để hỗ trợ học phí, sách vở, phương tiện học tập, ăn ở, đi lại và các chi phí cần thiết khác. Mức vay cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét căn cứ học phí từng cơ sở đào tạo và chi phí sinh hoạt tại từng địa bàn, nhưng không vượt quá 8 triệu đồng/tháng.
Đề xuất tăng gấp đôi hạn mức được đưa ra trong bối cảnh mức vay 4 triệu đồng, được điều chỉnh từ năm 2022, không còn theo kịp chi phí thực tế. Khảo sát tại Hà Nội và TPHCM cho thấy, chi phí sinh hoạt cơ bản của sinh viên học xa nhà có thể ở mức 3 - 5 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, học phí tại các cơ sở giáo dục đại học (ĐH) công lập từ năm học 2026 - 2027 dao động khoảng 17 - 87,5 triệu đồng/năm, tùy trường, ngành và mức độ tự chủ.
Thực tế, nhu cầu vay vốn học tập đã tồn tại trong nhiều năm. Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, sau 19 năm triển khai, hơn 4 triệu lượt HSSV có hoàn cảnh khó khăn đã được tiếp cận nguồn vốn. Tính đến ngày 31/5/2026, tổng doanh số cho vay đạt 92.532 tỷ đồng, dư nợ 24.475 tỷ đồng với 355.805 hộ gia đình còn dư nợ.
Dự thảo cũng mở rộng một số trường hợp được tiếp cận chính sách. Bên cạnh các nhóm hộ nghèo, cận nghèo, hộ có mức sống trung bình, người học mồ côi hoặc gia đình gặp khó khăn do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, dự thảo bổ sung trường hợp cha hoặc mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc cả cha mẹ đều không có khả năng lao động.
Để chính sách đến đúng người học
Từ phía các cơ sở giáo dục, việc nâng hạn mức được đánh giá là cần thiết để phù hợp hơn với thực tế tài chính của sinh viên. ThS Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên (Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TPHCM) cho biết, học phí chương trình tiếng Việt khóa tuyển sinh năm 2026 của trường khoảng 35,8 triệu đồng/năm, tương đương 3,6 triệu đồng/tháng. Với mức vay tối đa 4 triệu đồng hiện nay, phần lớn khoản vay gần như chỉ đủ trang trải học phí, trong khi tiền thuê trọ, ăn uống, đi lại vẫn phải do gia đình đảm bảo.
Theo ông Tiến, Bộ Tài chính ước tính tổng chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên hiện khoảng 13,75 triệu đồng/tháng. Nếu nâng mức vay lên 8 triệu đồng, khoản hỗ trợ có thể đáp ứng khoảng 60% nhu cầu, giúp nguồn tín dụng thực sự trở thành điểm tựa tài chính thay vì chỉ bù đắp một phần nhỏ chi phí.
Tuy nhiên, tăng hạn mức mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Để chính sách phát huy hiệu quả, người học cần được tiếp cận vốn thuận lợi, thủ tục đơn giản và khoản vay được giải ngân đúng thời điểm.
Thực tế tại các cơ sở đào tạo cho thấy nhu cầu vay vốn học tập khá lớn. Trường ĐH Công thương TPHCM cho biết, mỗi năm trường xác nhận cho khoảng 8.000 sinh viên vay vốn, trong tổng số khoảng 20.000 sinh viên. Con số này cho thấy tín dụng học tập đang là một kênh hỗ trợ tài chính quan trọng đối với nhiều người học, đồng thời đặt ra yêu cầu chính sách cần được điều chỉnh linh hoạt hơn theo thực tế.
Ông Đinh Hồng Vân - Trưởng phòng Chính trị - Công tác sinh viên, Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học TPHCM (HUFLIT) cho rằng, việc nâng hạn mức cần đi cùng cơ chế điều chỉnh phù hợp với biến động của học phí và chi phí sinh hoạt, thay vì duy trì một mức vay cố định trong thời gian dài. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, tăng liên thông dữ liệu giữa cơ sở giáo dục, chính quyền địa phương và đơn vị cho vay để rút ngắn thời gian xét duyệt, giải ngân.
Không chỉ đặt ra yêu cầu ở khâu tiếp cận vốn, chính sách cũng cần tính đến giai đoạn sau khi người học tốt nghiệp. Các chuyên gia cho rằng tín dụng sinh viên nên được kết nối với hỗ trợ việc làm, hướng nghiệp và doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu cơ chế hoàn trả linh hoạt, phù hợp với thu nhập sau khi ra trường. Cách làm này vừa góp phần bảo đảm khả năng thu hồi vốn, vừa hạn chế áp lực tài chính đối với người học trong những năm đầu bước vào thị trường lao động.