Báo Đại Đoàn Kết Văn hóa

Định vị nhiếp ảnh mỹ thuật trong dòng chảy công nghiệp văn hóa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Định vị nhiếp ảnh mỹ thuật trong dòng chảy công nghiệp văn hóa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Định vị nhiếp ảnh mỹ thuật trong dòng chảy công nghiệp văn hóa
Các tác phẩm của những nhiếp ảnh gia đại thụ cho thấy kỹ thuật xử lý ánh sáng và bố cục vô cùng tinh tế.

Nhiếp ảnh mỹ thuật đã hiện diện tại Việt Nam từ rất sớm, ghi dấu bằng những tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật của các thế hệ nghệ sĩ tiên phong. Những triển lãm quy mô lớn và các hiệu ảnh từng trở thành một phần đời sống văn hóa của người dân. Tiếp nối dòng chảy lịch sử ấy, nhiếp ảnh mỹ thuật đương đại đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với kỳ vọng củng cố và khẳng định vị thế trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Hành trình định hình một loại hình nghệ thuật

Khác với quan niệm phổ biến cho rằng nhiếp ảnh chỉ đơn thuần ghi lại những khoảnh khắc của cuộc sống, nhiếp ảnh mỹ thuật xem hình ảnh như một phương tiện biểu đạt nghệ thuật. Giá trị của tác phẩm không chỉ nằm ở nhân vật mà còn ở tư duy sáng tạo, ý tưởng và cách thức thể hiện của người nghệ sĩ. Từ việc xây dựng bố cục, dàn dựng bối cảnh đến vận dụng các kỹ thuật sáng tạo trong quá trình chụp và xử lý hình ảnh, mọi lựa chọn đều hướng tới việc truyền tải thông điệp một cách sáng tạo thay vì chỉ tái hiện hiện thực.

Nhìn vào dòng chảy lịch sử, Việt Nam tiếp cận với nhiếp ảnh từ khá sớm. Chỉ 30 năm sau khi chiếc máy ảnh đầu tiên được công bố tại Pháp, danh nhân Đặng Huy Trứ đã đưa nghề ảnh về Việt Nam, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhiếp ảnh trong nước.

Cùng với sự phát triển của nhiếp ảnh nói chung, nhiếp ảnh mỹ thuật cũng từng bước định hình. Những thử nghiệm với kỹ thuật buồng tối, chồng lớp phim, tráng đảo âm dương... đã mở rộng khả năng biểu đạt của nhiếp ảnh, cho thấy các nghệ sĩ Việt Nam sớm vượt ra khỏi chức năng ghi chép hiện thực để tiếp cận nhiếp ảnh như một loại hình nghệ thuật. Có thể kể đến những tên tuổi tiêu biểu đã đồng hành cùng nhiếp ảnh nghệ thuật như Nguyễn Mạnh Đan, Nguyễn Duy Kiên, Võ An Ninh, Nguyễn Cao Đàm...

Một trong những dấu mốc quan trọng của dòng chảy này là Triển lãm Nhiếp ảnh mỹ thuật toàn quốc năm 1952 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Triển lãm quy tụ đông đảo các nhà nhiếp ảnh trong cả nước, đánh dấu bước phát triển mới của nhiếp ảnh mỹ thuật. Những năm sau đó, các triển lãm, liên hoan và hoạt động giao lưu trong nước, quốc tế tiếp tục được tổ chức, mở rộng không gian sáng tạo và đối thoại cùng dòng chảy nghệ thuật thế giới.

Theo TS Phạm Minh Quân, giảng viên Trường ĐH Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (ĐH Quốc gia Hà Nội), lịch sử của nhiếp ảnh không chỉ là lịch sử của công nghệ hay kỹ thuật mà còn là lịch sử của những con người đã không ngừng sáng tạo để đưa nhiếp ảnh đứng ngang hàng với các loại hình nghệ thuật truyền thống. Qua các triển lãm quốc tế và những tác phẩm của các thế hệ nghệ sĩ tiên phong, có thể thấy tư duy nhiếp ảnh mỹ thuật Việt Nam không hề kém cạnh so với thế giới.

Dù đã có sự hình thành và phát triển từ sớm, nhưng nhiếp ảnh mỹ thuật dường như vô hình trong hệ sinh thái nghệ thuật tại Việt Nam. Lĩnh vực này vẫn còn nhiều khoảng trống cần được tiếp tục bồi đắp, từ hệ thống lý luận, công tác đào tạo đến các thiết chế văn hóa - nghệ thuật. Những giá trị được tạo dựng qua nhiều thế hệ nghệ sĩ vẫn chưa được hệ thống hóa thành một bức tranh toàn diện, khiến dòng chảy của nhiếp ảnh mỹ thuật Việt Nam chưa được nhận diện một cách đầy đủ.

“Nhiếp ảnh mỹ thuật Việt Nam hiện vẫn thiếu những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, thay vì chỉ dừng ở việc ghi chép các mốc thời gian hay sự kiện, ông cho rằng cần xây dựng một hệ thống lý luận giúp làm rõ sự vận động của tư duy sáng tạo, quan niệm nghệ thuật và những đóng góp của các thế hệ nghệ sĩ đối với dòng chảy nhiếp ảnh mỹ thuật Việt Nam”, ông Quân nói.

Tháo gỡ những khoảng trống để khẳng định vị thế

Bài toán về đào tạo và xây dựng môi trường phát triển các thế hệ tương lai là một mắt xích quan trọng. Họa sĩ Nguyễn Thế Sơn nhìn nhận, nhiếp ảnh ở nhiều cơ sở đào tạo vẫn chủ yếu được xem như một môn học bổ trợ, chưa trở thành một hướng thực hành nghệ thuật độc lập để sinh viên lựa chọn theo đuổi lâu dài. Đào tạo nhiếp ảnh mỹ thuật không chỉ dừng ở việc trang bị kỹ năng mà còn cần nuôi dưỡng tư duy nghệ thuật và khả năng sáng tạo song song.

Một loại hình nghệ thuật muốn phát triển không chỉ cần những người sáng tạo mà còn cần một môi trường để tác phẩm được giới thiệu, lưu giữ và đối thoại với công chúng. Nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống triển lãm hay phòng trưng bày chuyên nghiệp, bảo tàng nhiếp ảnh, bộ sưu tập và các triển lãm chuyên ngành nhằm lưu giữ, giới thiệu và phát huy giá trị của tác phẩm. Trong khi đó, tại Việt Nam, những không gian dành riêng cho nhiếp ảnh mỹ thuật vẫn còn rất hạn chế.

Việc thiếu đi những không gian để công chúng tiếp cận có thể mang lại Trong bối cảnh các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng được chú trọng, nhiếp ảnh mỹ thuật được kỳ vọng sẽ có thêm không gian để phát huy vai trò của mình, không chỉ như một phương tiện ghi nhận hiện thực mà còn là một loại hình nghệ thuật góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và thúc đẩy sáng tạo đương đại.

“Trong tương lai hi vọng sẽ có được thế hệ những nghệ sĩ thị giác, nhiếp ảnh đi theo hướng nhiếp ảnh mỹ thuật. Từ phía chúng tôi sẽ cố gắng mang lại sự nhận diện về khái niệm tư duy tiếp cận nhiếp ảnh trong chương trình đào tạo, mong rằng sẽ có những bạn trẻ yêu thích, đam mê và dám dấn thân”, ông Sơn chia sẻ.

Điều cần thiết ở giai đoạn hiện nay là tạo dựng những điều kiện để các giá trị ấy tiếp tục được nuôi dưỡng, kết nối và lan tỏa. Công nghiệp văn hóa đang được xác định là một động lực phát triển mới, nhiếp ảnh mỹ thuật cũng đứng trước cơ hội khẳng định rõ hơn vai trò của mình trong đời sống nghệ thuật đương đại.

Hồng Mai