Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Doanh nghiệp khí làm gì để đứng vững ở trong nước, từ đó vươn mình ra thế giới?

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Doanh nghiệp khí làm gì để đứng vững ở trong nước, từ đó vươn mình ra thế giới?

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nhiều ý kiến cho rằng, chỉ khi hoàn thiện khung chính sách, phát triển hạ tầng đồng bộ và nâng cao năng lực quản trị, doanh nghiệp khí Việt Nam mới có thể đứng vững trong nước và từng bước vươn ra thị trường quốc tế.

LNG – nhiên liệu chuyển tiếp và cơ hội mở rộng không gian phát triển

Ngày 14/1, trong khuôn khổ Diễn đàn “Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế” do Báo Đại đoàn kết tổ chức, nhiều đại biểu, chuyên gia đã chia sẻ thẳng thắn về nhằm thúc đẩy phát triển thị trường khí LNG tại Việt Nam và hỗ trợ doanh nghiệp khí Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.

Tại diễn đàn, TS. Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) ngày càng khẳng định vai trò là nhiên liệu chuyển tiếp quan trọng, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, vừa giúp giảm phát thải khí nhà kính. Đối với Việt Nam, LNG không chỉ là yêu cầu nội tại của quá trình phát triển mà còn mở ra cơ hội để các doanh nghiệp khí tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị LNG khu vực và quốc tế.

Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, LNG hiện được xem là “nhiên liệu bắc cầu” trong lộ trình giảm phát thải toàn cầu. Trữ lượng khí dồi dào cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ LNG giúp bảo đảm cân đối cung – cầu năng lượng trên phạm vi toàn cầu. Đáng chú ý, thị trường LNG thế giới đã hình thành các trung tâm giá tham chiếu quan trọng như JKM, TTF và Henry Hub, tạo nền tảng cho hoạt động thương mại LNG ngày càng minh bạch và chuyên nghiệp. Trong khi đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn nhất về nhu cầu LNG. Riêng tại Việt Nam, nhu cầu LNG được dự báo tăng mạnh trong giai đoạn 2026–2040, chủ yếu phục vụ các dự án điện khí LNG và các ngành công nghiệp sử dụng khí.

“Sự gia tăng nhu cầu này mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp khí Việt Nam, từ thị trường tiêu thụ trong nước đến khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị LNG quốc tế, bao gồm mua bán LNG đa nguồn, quản trị danh mục hợp đồng dài hạn – ngắn hạn, thương mại, hoán đổi và tối ưu hóa logistics. Đồng thời, LNG gắn chặt với các yêu cầu ESG, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), pha trộn hydrogen, qua đó giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn tài chính xanh và mở rộng hợp tác quốc tế”, TS. Nguyễn Quốc Thập chia sẻ.

TS.Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn
TS.Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn

Nhiều thách thức trên con đường hội nhập

Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, con đường vươn ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp khí LNG Việt Nam không hề bằng phẳng. Trước hết là những rào cản về khung pháp lý và cơ chế chính sách.

“LNG là thị trường mang tính toàn cầu, nhưng các doanh nghiệp khí Việt Nam vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ pháp lý trong nước, trong khi chuỗi khí – điện – LNG – phân phối và hộ tiêu thụ chưa được đồng bộ, mức độ hội nhập quốc tế còn hạn chế”, TS. Nguyễn Quốc Thập chỉ ra.

Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp khí trong nước có quy mô còn nhỏ, hạn chế về năng lực tài chính và kinh nghiệm đàm phán hợp đồng quốc tế, gặp khó khăn trong việc lựa chọn đối tác chiến lược. Rủi ro về giá LNG và biến động địa chính trị cũng là thách thức lớn, trong khi năng lực phòng ngừa và quản trị rủi ro tài chính của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế.

“Nguồn nhân lực và năng lực quản trị vẫn là điểm nghẽn lớn. Nhiều doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm kinh doanh LNG theo toàn chuỗi giá trị, tư duy và nhận thức chưa theo kịp yêu cầu của một thị trường LNG mang tính quốc tế cao”, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh.

Trước những cơ hội và thách thức đan xen, TS. Nguyễn Quốc Thập cho rằng, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý và thị trường LNG theo hướng thống nhất, đồng bộ từ nhập khẩu, mua bán đến trading LNG. Xác lập LNG là hàng hóa năng lượng có tính quốc tế, cho phép áp dụng thông lệ thị trường quốc tế.

Cùng với đó là xây dựng cơ chế giá LNG – điện khí đồng bộ, tiệm cận xu hướng quốc tế; triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA); phát triển hạ tầng LNG gắn với các trung tâm tiêu thụ lớn, khuyến khích đầu tư tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và mô hình PPP.

“Kinh nghiệm từ Singapore, Nhật Bản hay Hàn Quốc cho thấy, Nhà nước giữ vai trò then chốt trong kiến tạo thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu tham gia chuỗi LNG toàn cầu. Nếu có khung chính sách phù hợp và cách tiếp cận đột phá, doanh nghiệp khí Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành những chủ thể quan trọng trong chuỗi giá trị LNG khu vực và toàn cầu”, TS. Nguyễn Quốc Thập nhấn mạnh

Hạ tầng và thị trường: Nền tảng nhưng cũng là “điểm nghẽn”

Chia sẻ tại diễn đàn, TS. Phạm Quý Ngọc – chuyên gia Viện Dầu khí Việt Nam cho biết, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, khí thiên nhiên – đặc biệt là LNG – đang được xác định là nhiên liệu chuyển tiếp mang tính chiến lược. Để doanh nghiệp khí Việt Nam không chỉ trụ vững ở thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường quốc tế, việc xác lập các điều kiện nền tảng mang tính dài hạn là yêu cầu cấp thiết.

“Khí thiên nhiên giữ vai trò chủ chốt trong lộ trình giảm phát thải và thực hiện cam kết Net Zero 2050. Hiện nay, quy mô khí trong nước đạt khoảng 8–9 tỷ m3, trong khi Nghị quyết 70-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển thị trường khí đạt 30–35 tỷ m3 vào năm 2030. Dự báo cho thấy, nhu cầu khí tại Việt Nam sẽ tăng mạnh, trong đó khí cho phát điện tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, khí cho công nghiệp tăng trưởng ổn định. Đáng chú ý, LNG được xác định sẽ trở thành nguồn cung chủ lực, chiếm trên 50% tổng nguồn cung khí sau năm 2030, khi sản lượng khí nội địa suy giảm. Tuy nhiên, hạ tầng khí hiện nay đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Hệ thống đường ống tại các khu vực tiêu thụ trọng điểm như Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã tiệm cận giới hạn. Trong khi đó, hạ tầng tiếp nhận LNG mới trong giai đoạn hình thành, đòi hỏi sự điều phối và quy hoạch đồng bộ ở tầm quốc gia”, TS. Phạm Quý Ngọc chia sẻ.

TS.Phạm Quý Ngọc, chuyên gia Viện Dầu khí (VPI) phát biểu tại Diễn đàn
TS.Phạm Quý Ngọc, chuyên gia Viện Dầu khí (VPI) phát biểu tại Diễn đàn

Theo chuyên gia, thách thức lớn nhất hiện nay là khoảng trống cung – cầu, khi nhu cầu tăng nhanh nhưng nguồn cung trong nước suy giảm, trong khi thị trường vẫn phụ thuộc vào chuỗi giá trị truyền thống. Chiến lược phát triển của doanh nghiệp khí Việt Nam cần dựa trên ba trụ cột: nâng cấp chuỗi giá trị truyền thống; thâm nhập sâu hơn vào các lĩnh vực công nghiệp và giao thông; và chuyển đổi vai trò từ “người mua” sang “đối tác” trong chuỗi giá trị khí và LNG.

Một điều kiện then chốt để doanh nghiệp khí đứng vững là phát triển ổn định thị trường khí cho điện. Điều này đòi hỏi sớm hoàn thiện cơ chế chuyển ngang giá khí – giá điện minh bạch; hoàn thiện khung pháp lý cho hợp đồng mua bán điện (PPA) điện khí LNG; xây dựng cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro cho các dự án hạ tầng LNG quy mô lớn.

Mở rộng thị trường khí ngoài điện

Để giảm phụ thuộc vào lĩnh vực điện, TS. Phạm Quý Ngọc nhấn mạnh yêu cầu mở rộng thị trường khí ngoài điện. Khi hạ tầng và chuỗi giá trị nội địa được hoàn thiện, việc kết nối các kho cảng LNG với hộ tiêu thụ cuối thông qua các mô hình phân phối linh hoạt sẽ trở thành chìa khóa mở rộng thị trường.

Một số giải pháp được đề xuất gồm: Hình thành chuỗi giá trị LNG – điện – LNG quy mô nhỏ; phát triển các trung tâm LNG/khí – điện tích hợp; khuyến khích sử dụng LNG, CNG trong giao thông vận tải; và áp dụng cơ chế “dự án hạ tầng thiết yếu” đối với các kho cảng LNG trọng điểm.

“Chỉ khi đứng vững và phát triển bền vững tại thị trường trong nước, doanh nghiệp khí Việt Nam mới có đủ năng lực, kinh nghiệm và vị thế để vươn ra thị trường khu vực và quốc tế”, TS. Phạm Quý Ngọc nhấn mạnh.

Mai Loan