Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi): Phải chuyển đổi từ quản lý thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro
Đại biểu Quốc hội đề nghị, Luật Dầu khí lần này phải tạo được sự chuyển đổi thực chất từ quản lý chủ yếu bằng trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro và trách nhiệm.
Thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có nguy cơ làm mất chính phần tài nguyên cần tận thu
Ngày 8/8 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) cho biết thực tế cho thấy sản lượng nhiều mỏ hiện hữu đang suy giảm; các mỏ mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, trong khi tiềm năng còn lại tập trung ngày càng nhiều ở vùng nước sâu, xa bờ, địa chất phức tạp. Điều đó đòi hỏi pháp luật phải chuyển mạnh từ quản lý nặng về trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả và rủi ro; nếu không, chúng ta có nguy cơ có tài nguyên nhưng không thể thương mại hóa tài nguyên.

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, ông Sơn đề cập đến 3 vấn đề. Theo đó, cơ chế đối với mỏ khai thác tận thu, thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có nguy cơ làm mất chính phần tài nguyên cần tận thu (Điều 30). Bởi Điều 30 quy định: 2 năm trước khi hợp đồng hết hạn, nếu nhà thầu không trình đề xuất đầu tư bổ sung thì Tập đoàn quyết định một trong ba phương án, trong đó có phương án lựa chọn nhà thầu ký hợp đồng mới, và phải hoàn thành ký kết trước khi hợp đồng hiện hữu hết hạn. Chỉ khi còn tối thiểu 3 tháng mà dự kiến chưa thể ký được, Tập đoàn mới chuẩn bị kế hoạch tiếp quản.
“Tôi lo ngại về tính khả thi của các mốc thời gian này. Trong 24 tháng phải hoàn thành toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu, đàm phán, thẩm định, phê duyệt hợp đồng và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong khi thực tế việc ký một hợp đồng dầu khí mới thường kéo dài. Đặc biệt, với mỏ cuối đời có áp suất vỉa thấp, trữ lượng nhỏ, việc gián đoạn khai thác có thể làm tăng mạnh chi phí khôi phục, thậm chí phần dầu khí còn lại không còn hiệu quả kinh tế. Khi đó, chính sự chậm trễ của thủ tục có thể làm mất phần tài nguyên cần tận thu”, ông Sơn phân tích và đề nghị sửa Điều 30 theo hướng: “xác lập nguyên tắc bảo đảm liên tục khai thác là ưu tiên hàng đầu; cho phép chuẩn bị phương án tiếp quản song song ngay từ khi quyết định phương án, không chờ đến mốc 3 tháng; và quy định rõ mốc khởi động không phụ thuộc vào việc nhà thầu hiện hữu có trình đề xuất hay không. Đồng thời, cơ chế cho dự án khai thác tận thu tại khoản 5 Điều 30 cần được ban hành đồng thời với hiệu lực của Luật, tránh khoảng trống pháp lý”.
Đề cập đến cơ chế quyết định đầu tư và chấp nhận rủi ro, ông Sơn nhìn nhận, dự thảo hiện xác định trường hợp phải điều chỉnh kế hoạch đại cương phát triển mỏ (ODP), kế hoạch phát triển mỏ (FDP) chủ yếu bằng việc liệt kê hạng mục công trình và ngưỡng tăng tổng mức đầu tư.
Từ đó ông Sơn đề nghị, chuyển mạnh hơn sang tiêu chí về mức độ trọng yếu: chỉ yêu cầu trình điều chỉnh khi thay đổi đáng kể mục tiêu phát triển mỏ, trữ lượng có thể thu hồi, hệ số thu hồi, an toàn, môi trường hoặc hiệu quả kinh tế; các điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi đã được phê duyệt giao Tập đoàn và nhà thầu chủ động quyết định, chịu trách nhiệm. Đồng thời, tại Điều 36 và Điều 37, đề nghị thay cơ chế “có thể kết hợp phê duyệt” bằng quy định rõ: nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định thì được kết hợp phê duyệt, để bảo đảm tính dự báo.
Về hoạt động thu giữ, vận chuyển và lưu trữ các-bon (CCS), ông Sơn cho hay, CCS mở ra khả năng tái sử dụng mỏ cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu, nhưng đồng thời phát sinh nghĩa vụ giám sát kéo dài hàng chục năm, kể cả sau khi hợp đồng dầu khí chấm dứt. Vì vậy, đề nghị Luật quy định nguyên tắc bắt buộc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm tại Điều 49; mức cụ thể giao Chính phủ quy định. Đây là nghĩa vụ tài sản chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật; nếu Luật không đặt nguyên tắc, sẽ có nguy cơ nghĩa vụ tài chính dài hạn cuối cùng chuyển sang Nhà nước.
“Luật Dầu khí lần này phải tạo được sự chuyển đổi thực chất từ quản lý chủ yếu bằng trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro và trách nhiệm. Phân cấp phải đi cùng quyền quyết định; chấp nhận rủi ro phải đi cùng cơ chế kiểm soát; tạo thuận lợi cho đầu tư phải đi cùng bảo vệ tài nguyên và lợi ích quốc gia. Có như vậy, sửa Luật lần này mới thực sự tháo được điểm nghẽn để đưa tài nguyên dưới lòng đất thành nguồn lực cho tăng trưởng, an ninh năng lượng và ngân sách quốc gia”, ông Sơn nói.
Nghiên cứu bổ sung các chính sách phát triển doanh nghiệp dịch vụ dầu khí
Theo đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân (Đoàn TPHCM), việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này mở đường cho sự phát triển, đáp ứng yêu cầu về đảm bảo an ninh năng lượng theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị, hướng đến mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, hoàn thiện thể chế, chính sách để trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc phát triển năng lượng.
Các cơ sở lọc dầu phải đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu xăng dầu trong nước và mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng. Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi góp phần thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Lấy mốc khai thác tấn dầu đầu tiên năm 1986 từ mỏ dầu Bạch Hổ, theo ông Ngân, chúng ta đã đánh dấu gần 40 năm sự ra đời, phát triển ngành công nghiệp dầu khí ở nước ta. Sau hơn 40 năm khai thác, các mỏ cũ sản lượng đã giảm dần, cạn kiệt. Các mỏ mới, các mỏ tiềm năng nằm ở biển sâu, xa bờ, đòi hỏi việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác rất là phức tạp, công nghệ phải tiên tiến, chi phí lớn, rủi ro cao. Do đó, luật cần có tăng cường thêm các chính sách ưu đãi.
Bên cạnh đó ông Ngân đề nghị, Chính phủ xem xét về giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng xăng dầu trong thời gian tới, thay vì hiện nay mới đáp ứng được khoảng 70% khả năng cung ứng cho thị trường.
Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) đánh giá, điểm đáng chú ý nhất của dự thảo lần này là không chỉ sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí truyền thống mà còn từng bước mở ra không gian phát triển mới của ngành thông qua các quy định về thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Điều đó thể hiện tư duy chuyển từ quản lý hoạt động dầu khí sang kiến tạo sự phát triển của ngành dầu khí trong giai đoạn mới.
Về bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn hoạt động dầu khí, ông An đồng tình với cách thiết kế của dự thảo khi tiếp tục khẳng định nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong toàn bộ hoạt động dầu khí; đồng thời tiếp tục giữ ở cấp có thẩm quyền những quyết định liên quan trực tiếp đến chủ quyền, lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, đấu thầu vì lý do quốc phòng, an ninh và các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.

Theo ông An, đây là cách tiếp cận phù hợp. Hoạt động dầu khí của nước ta chủ yếu diễn ra trên biển. Mỗi công trình dầu khí, mỗi giàn khoan hay tuyến ống không chỉ có giá trị kinh tế mà còn góp phần khẳng định và duy trì sự hiện diện của Việt Nam trên các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền. Vì vậy, Luật Dầu khí không chỉ là đạo luật về khai thác tài nguyên mà còn là một công cụ pháp lý quan trọng góp phần thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Đánh giá cao dự thảo sau tiếp thu đã chuyển từ quy định “ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao” sang khuyến khích sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp trong nước. Đây là hướng tiếp thu tích cực. Tuy nhiên, theo đại biểu, khuyến khích sử dụng dịch vụ trong nước và phát triển ngành dịch vụ dầu khí là hai chính sách khác nhau.
Muốn doanh nghiệp Việt Nam cung cấp được dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao thì trước hết phải có doanh nghiệp mạnh, có công nghệ, có nguồn nhân lực chất lượng cao và có năng lực đổi mới sáng tạo. Do đó, ông An đề nghị, cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung các chính sách về phát triển doanh nghiệp dịch vụ dầu khí, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và từng bước hình thành hệ sinh thái dịch vụ dầu khí có khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế. Đây mới là nền tảng lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dầu khí Việt Nam.