Dự án trọng điểm Thủ đô chờ dòng vốn lớn
Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần cấp tín dụng vượt giới hạn, tối đa 52% vốn tự có, nhằm huy động nguồn vốn lớn cho các dự án quan trọng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến tại dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2024/QĐ-TTg, quy định về điều kiện, hồ sơ và thủ tục đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của các tổ chức tín dụng. Động thái này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho việc huy động nguồn vốn lớn phục vụ các dự án trọng điểm, đặc biệt là tại Thủ đô Hà Nội.

Dự thảo được xây dựng trên cơ sở nhiều căn cứ pháp lý, trong đó đáng chú ý là Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù cho các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô. Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được giao quyền xem xét, quyết định mức cấp tín dụng vượt giới hạn đối với các dự án này.
Một trong những nội dung mới của dự thảo là bổ sung nhóm dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Hà Nội vào diện được xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn. Cụ thể, các dự án thuộc diện này phải được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư, hoặc đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua và UBND thành phố chấp thuận.
Đáng chú ý, dự thảo quy định rõ mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn. Theo đó, hạn mức cho một khách hàng vay tối đa là 38% vốn tự có của ngân hàng. Đối với nhóm khách hàng và người có liên quan, mức trần là 52%.
Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) quy định, giới hạn cấp tín dụng đối với 1 khách hàng là 15%, với 1 khách hàng và người có liên quan là 25% vốn tự có của một TCTD. Khi khách hàng có nhu cầu vay vượt giới hạn, ngân hàng được cấp tín dụng hợp vốn. Luật cũng cho phép TCTD được cấp tín dụng vượt giới hạn khi được chấp thuận, trên cơ sở đáp ứng đầy đủ quy định tại Quyết định 09/2024/QĐ-TTg.
NHNN cho biết, trong thời gian vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép TCTD cấp tín dụng vượt giới hạn để thực hiện nhiều dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia như: Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Nhiệt điện Vĩnh Tân 4… Tại Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1, Thủ tướng phê duyệt mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn lớn nhất từ trước đến nay, với EVN là 38% vốn tự có, EVN và người có liên quan là 52% vốn tự có. Khoản cấp tín dụng vượt giới hạn này thực hiện rất chặt chẽ, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Từ trường hợp điển hình này, NHNN đề xuất, những thay đổi trên.
Tại bản giải trình lý do đề xuất sửa Quyết định 09/2024/QĐ-TTg nhằm quy định trần tín dụng vượt giới hạn cho các dự án Thủ đô, NHNN nêu, trong quá trình xây dựng Nghị quyết 258/2025/QH15, Bộ Tài chính đã có ý kiến về một số dự án trọng điểm của TP. Hà Nội có tổng mức đầu tư khoảng 300.000 tỷ đồng, nhu cầu vay 85% (khoảng 255.000 tỷ đồng). Lấy số liệu vốn tự có của Vietcombank và Vietinbank vào cuối năm để tính toán, nếu áp dụng mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan lần lượt là 38% và 52% thì mức cấp tín dụng vượt giới hạn tối đa đối với một khách hàng là khoảng 87.000 tỷ đồng, đối với một khách hàng và người có liên quan là 119.000 tỷ đồng. Khi áp dụng mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn không quá 38% và 52% so với quy định thì việc phối hợp cấp tín dụng hợp vốn giữa các NHTM bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án theo Nghị quyết 258/2025/QH15.
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong khi cấu trúc nguồn vốn hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng. Các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư hay các định chế tài chính vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, nâng cao chất lượng thị trường và tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực vì vậy trở thành yêu cầu quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Tại một hội thảo bàn về việc Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nhận định bối cảnh hiện nay đã đặt ra những yêu cầu về việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phù hợp để đảm bảo cân đối hài hòa các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo cung ứng đủ vốn nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
“Song song với việc đáp ứng đủ về quy mô, chúng ta còn cần chú trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng, định hướng dòng vốn tín dụng ngân hàng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng mới phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”, ông Hà chia sẻ.