Đưa “dịch vụ tài sản mã hóa” vào diện phòng chống rửa tiền, trốn thuế, tài trợ khủng bố
Đại biểu Quốc hội đánh giá đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào đối tượng báo cáo phi tài chính và bổ sung các dấu hiệu đáng ngờ riêng biệt cho lĩnh vực tài sản mã hóa thực sự cần thiết vì sự bùng nổ của các giao dịch trực tuyến và công nghệ chuỗi khối đã biến tài sản mã hóa trở thành một kênh lưu chuyển dòng tiền xuyên biên giới vô cùng phức tạp.
Ngày 6/8, Quốc hội thảo luận ở Tổ về: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; Dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
Tại Tổ 1, cho ý kiến về dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án, đại biểu Quốc hội Nguyễn Xuân Kỳ, Chánh án Toà án nhân dân TP. Hà Nội cho biết, với quy định về tỷ lệ giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính; giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm tại Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao thống nhất đề nghị Quốc hội xem xét không quy định chỉ tiêu mang tính định lượng mà chuyển sang giám sát kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp theo tiêu chí chất lượng và thời hạn giải quyết.
Các lý do được Chánh án Toà án nhân dân TP. Hà Nội đưa ra gồm: việc quy định tỷ lệ giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc cố định có thể dẫn đến cơ quan tụng chỉ chạy theo tỷ lệ giải quyết, ảnh hưởng đến chất lượng của bản án, quyết định; Mặt khác, số lượng vụ án, vụ việc mà Tòa án hiện phải giải quyết đã tăng gần gấp đôi so với thời điểm ban hành Nghị quyết số 96/2012/QH14 và ngày càng phức tạp, trong khi biên chế của ngành Tòa án giữ nguyên từ năm 2012 và tiếp tục phải cắt giảm gần 1,200 biên chế trong năm 2026, dẫn đến sự quá tải của các Thẩm phán trong giải quyết vụ án, vụ việc.
Ông Kỳ chia sẻ, khi thực hiện mô hình Tòa án 3 cấp, khối lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ 3 Tòa cấp cao chuyển lên Toà án nhân dân tối cao là rất lớn. Riêng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự tính đến 31/7/2026 đã thụ lý trên 18.893 đơn, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Do đó, mặc dù đang triển khai các giải pháp rất quyết liệt nhưng Toà án nhân dân tối cao đang gặp rất nhiều khó khăn để vừa đảm bảo chỉ tiêu của Nghị quyết vừa phải đảm bảo chất lượng giải quyết.
Hơn nữa, thực tiễn giải quyết các vụ án, vụ việc cho thấy nhiều vụ án, vụ việc thời gian giải quyết kéo dài do nhiều nguyên nhân khách quan. Việc quy định chỉ tiêu tỷ lệ giải quyết tuy về mặt hình thức là động lực để phấn đấu nhưng có thể dẫn tới việc Thẩm phán và Tòa án vì chạy theo chỉ tiêu thành tích mà có thể ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc.
Chánh án Toà án nhân dân TP. Hà Nội cũng đề nghị giữ nguyên tỷ lệ án bị hủy, sửa như Nghị quyết số 96/2019/QH14 nhưng tính trên tổng số các bản án, quyết định mà Thẩm phán đã giải quyết.
Bên cạnh đó, ông Kỳ đề nghị chỉnh lý điểm b khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội theo hướng: “Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan; bảo đảm tổng số các bản án và quyết định bị hủy và sửa do lỗi chủ quan không vượt quá 1,5% trên tổng số các bản án, quyết định mà Tòa án đã giải quyết”.
Góp ý vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn Hà Nội) đề cập đến việc đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào đối tượng báo cáo phi tài chính và bổ sung các dấu hiệu đáng ngờ riêng biệt cho lĩnh vực tài sản mã hóa. Ông Hà cho rằng, quy định này thực sự cần thiết vì sự bùng nổ của các giao dịch trực tuyến và công nghệ chuỗi khối đã biến tài sản mã hóa trở thành một kênh lưu chuyển dòng tiền xuyên biên giới vô cùng phức tạp. Do đặc tính ẩn danh cao và thiếu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý tiền tệ truyền thống, tài sản mã hóa đang bị các đối tượng phạm tội lợi dụng triệt để làm công cụ rửa tiền, trốn thuế và tài trợ khủng bố.
Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đang tồn tại một khoảng trống pháp lý rất lớn đối với loại hình tài sản này. Việc dự thảo Luật bổ sung dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo và thiết lập một danh mục các dấu hiệu đáng ngờ đặc thù tại Điều 33a là giải pháp then chốt và cấp bách nhất để bịt kín kẽ hở pháp lý này.
Nhất trí với quy định này, ông Hà đưa ra 3 lý do. Một là, thực thi trực tiếp các cam kết quốc tế về minh bạch tài chính: Việc luật hóa và quản lý các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa là điều kiện bắt buộc để đáp ứng Khuyến nghị số 15 của Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính quốc tế (FATF), hỗ trợ trực tiếp cho các nỗ lực đưa Việt Nam ra khỏi "Danh sách xám" của FATF và thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin thuế.
Hai là, trang bị công cụ định lượng cụ thể cho các tổ chức tín dụng để nhận diện rủi ro: Dự thảo đã xây dựng các dấu hiệu đáng ngờ rất thực tiễn tại Điều 33a, bao gồm: hành vi chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa để tránh ngưỡng báo cáo; các giao dịch có tần suất và giá trị lớn bất thường phát sinh ngay sau khi mở tài khoản; dòng tiền liên tục luân chuyển từ các thiết bị đăng nhập hoặc địa chỉ IP ở nước ngoài; hoặc việc sử dụng các loại tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh nhằm mục đích cố tình cắt đứt vết dòng tiền.
Những quy định chi tiết này giúp các ngân hàng thương mại và tổ chức trung gian thanh toán có cơ sở pháp lý rõ ràng để xây dựng kịch bản rà soát tự động, báo cáo kịp thời lên Ngân hàng Nhà nước.
Yếu tố thứ ba theo ông Hà là góp phần bảo vệ an ninh tiền tệ quốc gia, ngăn chặn hiệu quả dòng tiền bẩn chảy qua các kênh phi truyền thống và nâng cao uy tín của hệ thống tài chính Việt Nam trên toàn cầu.