Dưới bóng cây bồ hòn
Cây bồ hòn ngày nay giúp ta giữ đất, giữ rừng và giá trị kinh tế không chỉ từ thân gỗ mà ngay từ thứ “quả độc”. Với tôi, cây còn là gạch nối giữa ký ức của một thời gian khó với lối sống xanh bền vững hôm nay.

Chuyến xe khách dừng lại ở một cung đường uốn lượn giữa những đồi cây mướt mắt của vùng đất Tổ Phú Thọ. Tôi về thăm nhà bạn Dũng “ộp”- cùng nhập ngũ vào một ngày hè chói chang. Nhưng cái nắng dường như dịu lại khi bước chân vào lối dẫn lên đồi. Khung cảnh hiện ra trước mắt tôi thật nhẹ nhàng, lãng mạn.
Những hàng bạch đàn thân trắng vươn cao, lá kim rung rinh trong gió phát ra âm thanh vi vu, rì rào như tiếng sóng biển xa xăm. Xen kẽ giữa những rặng bạch đàn thanh mảnh ấy là những tán bồ hòn xòe rộng, xanh thẫm, vững chãi phủ bóng xuống một vùng đất đỏ. Tiếng ve mùa hè tấu lên khúc nhạc râm ran, vang vọng khắp các triền đồi, tạo nên một bản hòa âm vừa náo nhiệt vừa bình yên.
Tôi và bạn ngồi bệt dưới gốc một cây bồ hòn lớn, mắt nhìn xa xăm tới những dải đồi nhấp nhô. Bạn cười bảo, dân Trung du mình ăn đời ở kiếp với cái giống cây này rồi. Hồi tụi mình còn bé, vùng này gọi là tỉnh Phú Thọ, sau nhập với Vĩnh Phúc thành Vĩnh Phú, nay có thêm cả Hòa Bình nữa, nhưng cái tên Phú Thọ vẫn giũ vững. Còn thổ những, sinh thái thì ba vùng đất này cũng tương tự. Dù bao nhiêu thăng trầm địa giới, nhưng cây bồ hòn vẫn bám rễ sâu vào sỏi đá mà xanh. Bồ hòn đang trở thành một lựa chọn ưu việt trong các dự án phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhờ khả năng thích nghi tốt và giá trị kinh tế bền vững. Thân gỗ bền chắc của nó có thể làm nguyên liệu cho sản xuất đồ gia dụng, quả bồ hòn khô có giá trị thương mại khá ổn định, dao động khoảng trăm hai-trăm ba mươi ngàn một ký, giúp bà con vùng cao tỉnh mình có thêm thu nhập lâu dài, thay vì chỉ trồng các loại cây ngắn ngày.
Và chúng tôi nhớ lần đi dự Lễ giỗ tổ Vua Hùng, hai đưa len lỏi trong khu rừng nguyên sinh nơi đây, gặp những “cụ bồ hòn” lão làng nhất. Dưới bóng mát linh thiêng của tổ tiên, những cây bồ hòn cổ thụ cao vút, thân xù xì bạc phếch đã đứng đó cả trăm năm, chứng kiến bao mùa thay lá, hấp thụ hương trầm. Và tâm trí tôi bỗng chốc ngược dòng thời gian, tìm về những ngày thơ ấu nơi bìa rừng quê mình.
Ngày ấy, nhà tôi nằm sát mép rừng Nghè - rừng nguyên sinh. Bồ hòn với lũ trẻ chúng tôi là người bạn thân thiết như cây bưởi, cây xoan trong vườn. Cụm hoa bò hòn nhìn từ xa gần giống như hoa xoan - bông nhỏ li ti kết lại thành từng đám màu xanh vàng nhẹ. Hoa bồ hòn không có mùi thơm đặc trưng nào, nó quyến rũ chúng tôi bởi tán lá xanh mướt mát.
Những buổi chiều đi chăn trâu bò, chúng tôi trèo lên cành bồ hòn thấp, chọn một chạc cây bằng phẳng để nằm hóng gió, mắt lim dim nhìn giọt nắng chiều nghiêng nghiêng qua kẽ lá.
Trong ký ức của trẻ thơ ngày ấy, ai cũng nhớ câu người lớn nói “ngậm bò hòn làm ngọt” để thở than về nỗi cam chịu những điều cay đắng, hoặc bị hàm oan mà vẻ mặt vẫn tỏ ra vui vẻ. Người lớn dặn trẻ con, không bao giờ được ăn thứ “quả độc” này. Quả bồ hòn chín vàng trông bắt mắt giống như quả xấu, nhưng da nó nhăn nheo, có đường sống nổi rõ, đập nhẹ là thấy hạt đen tròn như hạt nhãn. Vậy mà “độc” ư?
***
Nhưng cái “độc” của nó lại trở nên quý giá như tiền bạc. Thời đó, xà phòng là một thứ xa xỉ mà chỉ những nhà khá giả mới mua gặt quần áo trắng hay gội đầu xà phòng thơm. Chợ quê nghèo nàn, thi thoảng mới thấy bà hàng xén bày ra vài bánh xà phòng hôi, xà phòng thơm, giá dù 5 xu, 1 hào, nhưng với nhà nghèo là rất đắt. Mẹ và chị tôi ít khi mua xà phòng mà tự làm ra từ quả bồ hòn.
Mỗi mùa quả chín, mẹ và chị ra bìa rừng nhặt những quả rụng đầy gốc về ngâm nước theo cách dân làng tôi vẫn làm từ bao nhiêu năm trước để giặt áo quần. Mẹ và chị cầm chiếc chày nhỏ dập nát quả bò hòn, lấy cùi ngâm trong nước qua đêm, rồi cho vào nồi sành đun sôi, ninh trong lửa nhỏ khoảng 1 tiếng đồng hồ. Khi nước chuyển sang màu sẫm, sền sệt gần giống mật mía loãng là bắc ra để nguội cho vào cái liễn nhỏ. Mỗi lần gặt áo phin trắng của chị, của chúng tôi, hoặc quần áo bị dính bùn của cha mẹ, chỉ cần chắt ra một ít, pha nước, rồi vò nhẹ là lớp bọt trắng mịn như bông đã xù lên. Thứ nước từ “quả độc” đã đánh tan mọi vết bẩn trên những tấm áo phin trắng, tấm áo nâu bạc màu của mẹ cha.
Mỗi lần đun nồi nước gội đầu mẹ tôi nướng bồ kết rồi bỏ vào đó đôi ba quả bồ hòn khô và canh lửa, nếu quá xôi bọt sẽ trào làm bếp tung lên tro bụi. Thỉnh thoảng mẹ kéo tôi ra gội đầu trước rồi mới tới lượt mình. Đôi bàn tay mẹ cào nhẹ vào da đầu, vò tóc một chút là bọt đã xù lên chẳng kém gì gội bằng xà phòng bánh. Nhờ bồ hòn, bồ kết mà mái đầu tôi sạch sẽ, thơm tho, không bị chê là “chua loét như dấm mẻ” sau những lần nô đùa chạy nhảy cùng lũ trẻ trâu.
***
Chỉ tính từ lúc tuổi mẫu giáo tới giờ đã ngót 70 năm trôi qua. Từ những quả bồ hòn nhặt nơi bìa rừng ấy, hôm nay tôi thấy chúng hồi sinh trong một diện mạo mới - những chai nước rửa chén sinh học với nhiều mẫu mã bắt mắt. Thật diệu kỳ! sau bao nhiêu vòng quay của công nghệ hóa chất, con người lại khao khát tìm về với thứ bọt trắng lành tính từ đại ngàn. Những chai nước rửa bát đĩa sinh học chiết xuất từ quả bồ hòn, có thêm chút hương liệu quế, cam, hoặc chanh không chỉ làm sạch đồ dùng ăn uống mà còn gột rửa cả những lo âu về sự nhiễm độc da tay từ các loại nước tẩy rửa bằng hóa chất công nghiệp, và đưa chúng ta về gần hơn với thiên nhiên, với lối sống xanh.
Đứng giữa đồi bồ hòn Phú Thọ hôm nay, nghe tiếng gió bạch đàn vi vu, tôi thầm cảm ơn những dự án phủ xanh đồi trọc đã mang loài cây này trở thành đại trà. Bồ hòn không chỉ giúp giữ đất, giữ rừng, mà còn là gạch nối giữa ký ức gian khó của thế hệ tôi với lối sống xanh bền vững hôm nay. Đi dưới bóng cây bồ hòn, tôi như thấy lại bóng dáng mình của ngày xưa, thấy lại đôi bàn tay mẹ vò nhẹ trên mái tóc mình và cảm nhận được mạch sống âm thầm, nhưng mạnh mẽ của vùng đất Trung du đang chuyển mình từng ngày. Bồ hòn với chúng tôi thật ngọt ngào!