Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Giữ lửa làng tàu hũ ky trăm năm bên dòng Đông Thành

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Giữ lửa làng tàu hũ ky trăm năm bên dòng Đông Thành

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Hơn một thế kỷ qua, những bếp lửa bên dòng Đông Thành vẫn đỏ rực mỗi ngày, nuôi sống bao gia đình và gìn giữ một nghề truyền thống đặc sắc của Vĩnh Long.

Làng nghề tàu hũ ky Mỹ Hòa.

Từ bếp lửa nhỏ đến làng nghề trăm tuổi

Buổi sáng giữa tháng 9, nắng vừa đủ hong những lá tàu hũ ky vàng óng trên những giàn tre. Bên dòng Đông Thành, phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã Mỹ Hòa), làng nghề tàu hũ ky với hàng chục hộ sản xuất đã rộn ràng từ sớm. Trong những căn ven sông, bếp than đỏ lửa. Người thợ cúi sát từng chảo đậu, mắt không rời lớp váng mỏng đang dần kết lại trên mặt nước.

Một chiếc que tre lướt nhẹ. Lớp váng được nâng lên, kéo thành dải mỏng rồi vắt lên sào. Hết chảo này đến chảo khác. Công việc nhìn qua tưởng đơn giản nhưng lại đòi hỏi đôi tay quen nghề, sự kiên nhẫn và khả năng chịu nóng bền bỉ.

Ông Đinh Công Hoàng - Chủ nhiệm Tổ hợp tác Tàu hũ ky Mỹ Hòa đang chia sẻ về nghề truyền thống của gia đình. (Ảnh: Thanh Lâm).
Ông Đinh Công Hoàng - Chủ nhiệm Tổ hợp tác Tàu hũ ky Mỹ Hòa đang chia sẻ về nghề truyền thống của gia đình. (Ảnh: Thanh Lâm).

Ở tuổi 76, ông Đinh Công Hoàng vẫn bắt đầu một ngày làm việc như thế. Ông là Chủ nhiệm Tổ hợp tác Tàu hũ ky Mỹ Hòa, đồng thời là thế hệ thứ 3 trong gia đình theo nghề. Hơn 70 năm qua, các thế hệ trong gia đình ông nối tiếp nhau giữ bếp, truyền lại cho con cháu cách chọn đậu, canh lửa, vớt váng và phơi tàu hũ ky.

Theo ông Hoàng, nghề không cầu kỳ nhưng để làm ra sản phẩm đạt chất lượng lại chẳng dễ dàng. Người thợ phải biết nhìn màu váng, cảm nhận độ dày, giữ lửa ổn định và tính toán nguyên liệu sao cho phù hợp.

“Lò tàu hũ ky phải có thợ giỏi mới khấm khá. Từ 100 kg đậu phải làm ra khoảng 36 kg thành phẩm mới được xem là thợ giỏi. Đậu ngon hay không còn tùy độ lửa, nguyên liệu đầu vào, nắng và các yếu tố khác”, ông Hoàng nói.

Một mẻ tàu hũ ky thường bắt đầu từ chiều tối hôm trước và kéo dài đến chiều hôm sau. Đậu nành được ngâm, tách vỏ, xay nhuyễn rồi vắt lấy nước. Nước đậu được đưa lên chảo nấu. Khi nhiệt độ đủ nóng, lớp váng mỏng dần hình thành trên mặt. Người thợ phải đứng liên tục bên bếp, khéo léo vớt từng lớp, hong cho ráo rồi đem phơi nắng.

Suốt một mẻ nấu, người làm nghề hầu như không có nhiều thời gian nghỉ. Chỉ cần lơ là, lớp váng có thể quá dày, quá mỏng hoặc không đạt độ dai mong muốn.

Anh Hà Trung Hiếu, người thợ trẻ của làng nghề, giới thiệu quy trình làm tàu hũ ky với bà Nguyễn Thị Ánh Loan, cán bộ Phòng Kinh tế phường Cái Vồn. (Ảnh: Thanh Lâm).
Anh Hà Trung Hiếu, người thợ trẻ của làng nghề, giới thiệu quy trình làm tàu hũ ky với bà Nguyễn Thị Ánh Loan, cán bộ Phòng Kinh tế phường Cái Vồn. (Ảnh: Thanh Lâm).

Anh Hà Trung Hiếu, một người thợ trẻ ở làng nghề, cho biết công việc bên những bếp than giúp anh có thu nhập lo cho bản thân và phụ giúp gia đình. Nghề không quá nặng nhọc, nhưng người làm phải chịu được sức nóng và quen với những đêm thức trắng. “Với tui như vậy là may mắn. Chỉ cần chăm chỉ thì mỗi tháng kiếm được tiền để sinh sống”, anh chia sẻ.

Nghề làm tàu hũ ky ở Mỹ Hòa có lịch sử lâu hơn những gì nhiều người vẫn nghĩ. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long, nghề bắt nguồn từ nghề gia truyền của người Hoa vào đầu thế kỷ XX.

Năm 1912, ông Châu Xường cùng vợ và hai người con trai là Châu Khoạnh (1894-1974) và Châu Sầm (1900-1973) bắt đầu làm tàu hũ ky. Từ vài chảo đậu ban đầu, nghề dần được truyền lại cho người dân trong vùng. Sản phẩm theo những chuyến ghe, chuyến xe đi đến nhiều địa phương, rồi từng bước hình thành làng nghề.

Đến năm 1923, làng An Hòa và làng Mỹ Chánh sáp nhập thành làng Mỹ Hòa. Từ đây, số người theo nghề ngày càng đông.

Anh Hà Trung Hiếu khéo léo vớt lớp váng đậu, công đoạn đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm. (Ảnh: Thanh Lâm).
Anh Hà Trung Hiếu khéo léo vớt lớp váng đậu, công đoạn đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm. (Ảnh: Thanh Lâm).

Bà Nguyễn Thị Ánh Loan, cán bộ Phòng Kinh tế phường Cái Vồn, cho biết làng nghề đã tồn tại hơn 100 năm, trở thành sinh kế của nhiều gia đình ven sông. Nghề được truyền qua nhiều thế hệ. Hiện khoảng 30 hộ liên kết thành tổ hợp tác, cùng chia sẻ kinh nghiệm, thay đổi cách làm để giữ nghề và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Trong ký ức của người dân nơi đây, cụ Châu Khoạnh cũng được nhắc đến như một trong những người đặt nền móng cho nghề. Cụ qua đời năm 1974, khi 80 tuổi. Từ những chảo đậu giản dị, các thế hệ sau tiếp tục giữ cách làm mà cha ông truyền lại. Những giàn phơi vàng óng vì thế cứ nối dài bên những căn nhà ven sông.

Anh Châu Thanh Bền, cháu đời thứ 4 của cụ Châu Khoạnh, đang cùng các thành viên trong gia đình tất bật sản xuất. Gia đình anh chủ yếu lấy công làm lời, không thuê nhân công. Hiện cơ sở có 20 chảo, mỗi ngày ngâm hơn 100 kg đậu nành, cho khoảng 40 kg tàu hũ ky thành phẩm bán cho thương lái. “Nghề này nhẹ nhàng, chịu được cái nóng với công thêm nhiệt huyết gìn giữ lại nghề truyền thống của ông, cha thì mới làm được, bởi nghề này cũng nhiều thăng trầm”, anh Bền nói.

Gia đình ông Nguyễn Văn Keo cũng là một trường hợp như thế. Ông là cháu ông Châu Sầm, đang cùng vợ nối nghề đời thứ 4. Ngày trước, ông nội và cha ông chỉ có 7 chảo, đốt bằng rơm. Nay gia đình đã phát triển đến gần 50 chảo trên hai giàn sản xuất, mỗi ngày làm gần 100 kg tàu hũ ky cung cấp ra thị trường.

Theo ông Keo và nhiều người dân trong làng nghề, làm tàu hũ ky hiện không còn mang lại lợi nhuận cao. Phần lớn các gia đình lấy công làm lời, vừa có thu nhập vừa cố giữ nghề.

Từ những bếp lửa nhỏ, một thương hiệu cũng dần được gây dựng. Năm 2013, “Tàu hũ ky Mỹ Hòa - Bình Minh” được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu tập thể. Năm 2017, sản phẩm đạt giải thưởng Sản phẩm tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long.

Đặc biệt, ngày 4/8/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định đưa Nghề làm tàu hũ ky xã Mỹ Hòa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Danh hiệu ấy mang đến niềm tự hào mới cho người làm nghề tàu hủ ky. Nhưng với những người vẫn ngày ngày đứng bên bếp nóng, giá trị lớn nhất vẫn là những chảo đậu tiếp tục đỏ lửa.

Giữ lửa giữa những đổi thay của làng nghề

Buổi trưa, nắng đổ xuống những giàn phơi. Những lá tàu hũ ky mỏng, vàng nhạt xếp đều như những dải lụa. Phía dưới, bếp vẫn đỏ lửa.

Hơn 100 năm tồn tại, nghề làm tàu hũ ky Mỹ Hòa đã nhiều lần thay đổi để thích ứng. Rơm được thay bằng than, rồi một số cơ sở đầu tư lò hơi. Máy móc được đưa vào hỗ trợ các công đoạn sơ chế. Những chảo đậu trước kia chỉ đếm trên đầu ngón tay, nay có cơ sở lên đến hàng trăm chảo. Dẫu vậy, công đoạn quyết định chất lượng sản phẩm vẫn cần bàn tay người thợ.

Ông Nguyễn Văn Keo cẩn thận treo những lá tàu hũ ky vừa vớt lên giàn phơi. (Ảnh: Thanh Lâm).
Ông Nguyễn Văn Keo cẩn thận treo những lá tàu hũ ky vừa vớt lên giàn phơi. (Ảnh: Thanh Lâm).

Đậu nành sau khi sơ chế được xay, lọc lấy nước rồi đưa vào chảo nấu. Người thợ phải giữ nhiệt ổn định, chờ lớp váng hình thành rồi dùng dụng cụ chuyên dụng vớt lên. Tùy yêu cầu của khách hàng, tàu hũ ky được làm thành lá lớn, cọng khô, cọng non hoặc ướp muối. Có loại bán tươi, có loại phơi khô để bảo quản lâu hơn.

Máy móc giúp tăng năng suất nhưng khó thay thế đôi mắt biết nhìn màu váng, bàn tay biết độ dày và kinh nghiệm canh lửa của người thợ lâu năm. Đó cũng là lý do nhiều gia đình, dù thu nhập từ nghề không còn như trước, vẫn cố gắng bám lò.

Áp lực lớn nhất hiện nay là chi phí sản xuất. Giá đậu nành, than và tiền công ngày một tăng, trong khi giá bán không phải lúc nào cũng tăng theo. Những lúc thị trường chậm, người làm nghề phải tính toán từng khoản chi. Có người rời lò đi tìm công việc khác. Cũng có người vẫn ở lại, tiếp tục giữ bếp.

Bà Nguyễn Thị Phương, 52 tuổi, ở phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long, đã hơn 15 năm mua tàu hũ ky Mỹ Hòa để đưa đi tiêu thụ tại các tỉnh. Theo bà, trước đây thương lái phải đến tận từng lò để gom hàng. Nay chỉ cần điện thoại đặt trước, sản phẩm được giao đến tận nơi.

Thị trường thuận lợi hơn, cách mua bán cũng nhanh hơn nhưng lợi nhuận không phải lúc nào cũng cao. “Có thời điểm hàng bán rất tốt, nhưng thị trường biến động thì lời ít. Một số người thấy không hiệu quả nên chuyển nghề khác”, bà Phương cho biết.

Với người làm nghề, những tháng rằm và thời điểm giáp Tết thường là lúc bận rộn nhất. Các lò phải tăng công suất, thuê thêm người. Có thời điểm làm cả ngày lẫn đêm vẫn không đủ hàng giao cho khách.

Ông Đoàn Minh Cảnh, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất tàu hũ ky Mỹ Hòa, cho phóng viên Đại Đoàn Kết biết hiện làng nghề còn 28 hộ theo nghề. Vào cao điểm tháng Bảy âm lịch và những ngày giáp Tết, mỗi hộ phải tăng thêm hàng chục nhân công. Bình thường, cơ sở của ông thuê 7 người, mỗi ngày đưa ra thị trường hơn 100 kg tàu hũ ky thành phẩm.

Những con số ấy cho thấy làng nghề vẫn còn sức sống, dù quy mô sản xuất thay đổi theo từng thời điểm.

Sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ người ăn chay. Tàu hũ ky Mỹ Hòa ngày càng xuất hiện trong nhiều bữa cơm gia đình, nhà hàng, từ món cuốn, món chiên đến nhiều món ăn khác. Từ thị trường Vĩnh Long, sản phẩm đã được đưa đến các tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, TP Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác.

Anh Châu Thanh Bền, cháu đời thứ 4 của cụ Châu Phoạnh, tiếp nối nghề làm tàu hũ ky của gia đình. (Ảnh: Thanh Lâm).
Anh Châu Thanh Bền, cháu đời thứ 4 của cụ Châu Phoạnh, tiếp nối nghề làm tàu hũ ky của gia đình. (Ảnh: Thanh Lâm).

Theo Chủ nhiệm Tổ hợp tác Tàu hũ ky Mỹ Hòa, có thời điểm làng nghề duy trì hơn 30 hộ, sản lượng khoảng 3-4 tấn mỗi ngày, giải quyết được việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. Sự chênh lệch về số hộ và sản lượng giữa các thời điểm cho thấy nghề vẫn đang vận động theo thị trường. Dù vậy, thương hiệu Mỹ Hòa vẫn giữ được vị trí riêng, quan trọng hơn là mạch truyền nghề chưa bị đứt.

Ở tuổi ngoài thất thập, ông Đinh Công Hoàng đã tính chuyện giao lại công việc cho các con. Với ông, truyền nghề không đơn thuần là dạy cách làm ra một miếng tàu hũ ky. Đó còn là trao lại một sinh kế, một cách làm ăn và ký ức của gia đình qua nhiều thế hệ.

Ngày 3/4/2023, tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ công bố quyết định công nhận Nghề làm tàu hũ ky xã Mỹ Hòa là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Từ danh hiệu này, làng nghề đứng trước cơ hội mới: không chỉ sản xuất nhiều hơn mà còn phải làm tốt hơn, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và từng bước đưa nghề trở thành điểm đến trải nghiệm.

Ông Nguyễn Thành Phương, Chủ tịch UBND phường Cái Vồn, cho biết sau khi sáp nhập, chính quyền địa phương đã tổ chức khảo sát, tìm hiểu nguyện vọng của người dân tại làng nghề để có giải pháp hỗ trợ phù hợp. Địa phương đã tạo điều kiện cho bà con tiếp cận nguồn vốn vay, đồng thời hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Bên cạnh đó, phường quan tâm công tác quảng bá, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm làng nghề, trong đó hỗ trợ các cơ sở hoàn thiện sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Địa phương cũng từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng cầu, bến phục vụ việc đi lại, vận chuyển hàng hóa; đồng thời kết nối với các đơn vị lữ hành, đưa làng nghề vào các tour du lịch, góp phần thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Ông Đoàn Minh Cảnh, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất tàu hũ ky Mỹ Hòa, chuẩn bị giao hàng. (Ảnh: Thanh Lâm).
Ông Đoàn Minh Cảnh, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất tàu hũ ky Mỹ Hòa, chuẩn bị giao hàng. (Ảnh: Thanh Lâm).

Tỉnh Vĩnh Long cũng định hướng xây dựng đề án bảo tồn, phát huy giá trị di sản; ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, xúc tiến thương mại; xây dựng khu giới thiệu làng nghề và tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho du khách.

Nhưng trước khi nghĩ đến những điều lớn hơn, người dân nơi đây vẫn bắt đầu từ công việc quen thuộc nhất: nhóm bếp, canh lửa, vớt váng rồi đem tàu hũ ky ra phơi.

Chiều xuống, những sào tre nối nhau bên hiên nhà. Gió từ sông Đông Thành thổi qua, làm những lá tàu hũ ky khẽ lay động. Bên trong, một mẻ mới lại bắt đầu.

Hơn một thế kỷ đã đi qua kể từ ngày ông Châu Xường cùng các con đặt những chảo đậu đầu tiên ở Mỹ Hòa. Người mở nghề đã khuất, những thế hệ nối nghề cũng lần lượt già đi. Nhưng ngọn lửa vẫn còn. Những người kế thừa nghề truyền thống vẫn đang tiếp nối công việc của cha ông.

Có lẽ sức sống của làng nghề nằm ở điều giản dị ấy: khi còn người chịu đứng bên bếp nóng, còn bàn tay biết vớt một lớp váng mỏng lên sào tre, câu chuyện tàu hũ ky Mỹ Hòa vẫn chưa khép lại.

Từ một món ăn dân dã, nghề đã trở thành thương hiệu, rồi trở thành di sản. Và từ những bếp lửa ven sông Đông Thành, một phần ký ức của “Vùng đất Chín Rồng” vẫn đang được truyền lại cho mai sau.

Thanh Lâm