Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Gỡ điểm nghẽn, mở đường cho nông sản Việt vươn xa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Gỡ điểm nghẽn, mở đường cho nông sản Việt vươn xa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trong bối cảnh thị trường quốc tế liên tục thay đổi, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng, song phía trước còn không ít rào cản về thị trường, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chi phí logistics.

Giải bài toán chuỗi cho hàng xuất khẩu

Con số hơn 49 tỷ USD sau 8 tháng đầu năm là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động. Riêng tháng 7, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 6,6 tỷ USD, tăng gần 12% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê tăng về khối lượng nhưng giảm về giá trị. Ảnh: NP.
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê tăng về khối lượng nhưng giảm về giá trị. Ảnh: NP.

Trong cơ cấu chung, nông sản đạt hơn 22 tỷ USD, thủy sản hơn 6,8 tỷ USD, lâm sản gần 11 tỷ USD và sản phẩm chăn nuôi khoảng 455 triệu USD… những kết quả này cho thấy, thị trường vẫn còn rộng mở đối với hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng 7,5% cũng là một thực tế không thể bỏ qua như giá cả, chi phí vận chuyển, yêu cầu kỹ thuật và những thay đổi chính sách của các thị trường nhập khẩu đang ngày càng tác động mạnh đến doanh nghiệp.

Tại Hội nghị các hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vừa được tổ chức tại TPHCM, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã dành nhiều thời gian để các hiệp hội, doanh nghiệp nói thẳng về những khó khăn đang gặp phải. Cách tiếp cận này cho thấy bài toán xuất khẩu hiện nay không thể chỉ giải bằng việc tìm thêm một thị trường hay ký thêm một hợp đồng, mà cần xử lý những vấn đề nằm ngay trong chuỗi sản xuất.

Mục tiêu được đặt ra là đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 vượt 74 tỷ USD, đồng thời góp phần đạt mức tăng trưởng GDP toàn ngành tối thiểu 4%. Để đi đến đích, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời tăng cường vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong hỗ trợ mở rộng thị trường.

Một trong những vấn đề được nhắc đến nhiều là mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi và mã số cơ sở đóng gói. Đây vốn được xem là “tấm vé” để nông sản tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc. Nhưng nếu quy trình còn phức tạp, dữ liệu chưa đồng bộ hoặc việc quản lý ở cơ sở chưa chặt chẽ, chính công cụ giúp nâng cao chất lượng lại có thể trở thành điểm nghẽn đối với doanh nghiệp và người sản xuất.

Theo hướng được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra, việc cấp mã số vùng trồng sẽ được đơn giản hóa thủ tục, tăng ứng dụng số và triển khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Cùng với đó là yêu cầu quản lý chặt hơn chất lượng vật tư đầu vào, an toàn thực phẩm, nguồn gốc hàng hóa và tính trung thực của dữ liệu.

Cùng với mã số, logistics tiếp tục là bài toán cần được tháo gỡ. Chi phí vận tải và các khâu trung gian nếu tăng cao sẽ nhanh chóng làm giảm lợi thế về giá của nông sản Việt. Trong khi đó, yêu cầu về bảo quản, thời gian giao hàng và chất lượng sản phẩm ngày càng khắt khe, nhất là với rau quả tươi, thủy sản và những mặt hàng cần kiểm soát nhiệt độ. Vì vậy, phát triển logistics nông nghiệp, nâng năng lực bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu không còn là câu chuyện của riêng doanh nghiệp. Đây là một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia trong xuất khẩu nông sản.

Về triển vọng từng ngành hàng, tôm tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực, song cũng là mặt hàng chịu áp lực cạnh tranh lớn nhất. Ảnh: HT.
Về triển vọng từng ngành hàng, tôm tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực, song cũng là mặt hàng chịu áp lực cạnh tranh lớn nhất. Ảnh: HT.

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia chính thức được đưa vào vận hành từ ngày 1/7/2026. Việc số hóa thông tin trong chuỗi cung ứng được kỳ vọng giúp minh bạch hơn quá trình sản xuất, chế biến và lưu thông hàng hóa, đồng thời tạo thêm công cụ để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao từ thị trường nhập khẩu.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng yêu cầu các địa phương tổ chức lại sản xuất gắn với thị trường, chịu trách nhiệm về chất lượng từ vùng nguyên liệu, quản lý chặt mã số vùng trồng, vùng nuôi và cơ sở đóng gói; đồng thời chủ động phương án khi thị trường biến động, hạn chế tình trạng ùn ứ, ép giá hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng trong mùa vụ.

Từ bán nhiều sang bán được giá trị

Một trong những ví dụ rõ nhất cho yêu cầu thay đổi tư duy xuất khẩu là câu chuyện hạt gạo; trong nhiều năm, Việt Nam đã nằm trong nhóm những quốc gia xuất khẩu gạo lớn của thế giới. Nhưng khi thị trường biến động, việc phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường và cạnh tranh chủ yếu bằng giá bắt đầu bộc lộ những giới hạn.

Theo ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Philippines vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam, với khoảng 2,5 triệu tấn trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, những thay đổi trong chính sách nhập khẩu của thị trường này đặt ra yêu cầu phải chủ động hơn trong đa dạng hóa thị trường. Lãnh đạo VFA cho rằng, bên cạnh Philippines, cần mở rộng sang châu Phi và những thị trường có tiềm năng khác.

Nhưng mở thêm thị trường mới chỉ là một phần câu chuyện, điều quan trọng hơn là làm sao để cùng một hạt gạo, Việt Nam có thể bán được giá trị cao hơn. Gạo ST25 là một ví dụ. Theo những phân tích được đưa ra tại hội nghị, dù chất lượng đã được thị trường quốc tế ghi nhận, giá xuất khẩu của gạo Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể so với giá trị mà sản phẩm có thể đạt được tại một số thị trường. Điều này đặt ra câu hỏi về thương hiệu, chất lượng ổn định và khả năng tổ chức chuỗi từ sản xuất đến xuất khẩu.

Sầu riêng đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kỷ lục của xuất khẩu rau quả trong tháng 8/2026. Ảnh: TT.
Sầu riêng đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng kỷ lục của xuất khẩu rau quả trong tháng 8/2026. Ảnh: TT.

Vì vậy, VFA đề xuất xây dựng thương hiệu gạo quốc gia, ổn định giá lúa, đầu tư hệ thống kho chứa, sấy và bảo quản sau thu hoạch; đồng thời tăng khả năng tiếp cận vốn và tạo điều kiện để doanh nghiệp liên kết trực tiếp với người trồng lúa. Mục tiêu xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo trong năm 2026 được đánh giá là có cơ sở, nhưng câu chuyện quan trọng hơn vẫn là làm sao để giá trị thu về trên mỗi tấn gạo cao hơn.

Với thủy sản, cơ hội cũng đang đến từ cả sản phẩm lẫn thị trường. Tám tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản đạt trên 6 tỷ USD, tăng gần 13%; trong đó xuất khẩu tôm tiếp tục là nhóm hàng chủ lực với hơn 2,5 tỷ USD, trong khi cá tra đạt hơn 1 tỷ USD. Một số mặt hàng khác có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý, trong đó tôm hùm xanh đạt hơn 600 triệu USD, tăng hơn 45% so với cùng kỳ

Đáng chú ý, Trung Quốc đã chi gần 2 tỷ USD mua thủy sản Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, tăng mạnh so với cùng kỳ. Cùng với đó, một số thị trường như Brazil, Singapore, Colombia và Ai Cập cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Những diễn biến này cho thấy khả năng đa dạng hóa thị trường đang mở ra thêm không gian cho doanh nghiệp thủy sản.

Nhìn từ gạo và thủy sản, có thể thấy hướng đi của xuất khẩu nông sản Việt Nam đang dần thay đổi. Nếu trước đây lợi thế thường được nhắc đến là sản lượng và giá cạnh tranh, thì giai đoạn mới đòi hỏi nhiều hơn: chất lượng ổn định, thương hiệu đủ mạnh, chuỗi cung ứng minh bạch và khả năng đáp ứng nhanh những thay đổi của thị trường.

Quốc Định