Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Gỡ “nút thắt” để khai thác hiệu quả đất rừng do UBND xã quản lý

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Gỡ “nút thắt” để khai thác hiệu quả đất rừng do UBND xã quản lý

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Hơn 3 triệu ha rừng hiện do UBND cấp xã quản lý đang là nguồn tài nguyên quan trọng đối với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, phần lớn diện tích này vẫn trong tình trạng quản lý tạm thời, thiếu chủ thể quản lý ổn định, khiến nhiều tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa được khai thác hiệu quả.

Đây là vấn đề được các chuyên gia, nhà quản lý và địa phương tập trung thảo luận tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý” do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức sáng 4/6 tại Hà Nội.

Nguồn lực lớn nhưng vẫn trong tình trạng quản lý tạm thời

Về thực trạng đất rừng, đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý theo kết quả nghiên cứu của Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Vụ Kinh tế ngành - Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tổ chức Forest Trends cho thấy, hiện cả nước có hơn 3,07 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp do UBND cấp xã quản lý, chiếm khoảng 20,51% tổng diện tích rừng toàn quốc.

Đây là một nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế lâm nghiệp, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy phần lớn diện tích này vẫn đang ở trong tình trạng “quản lý tạm thời”, chưa xác lập được chủ rừng thực sự theo đúng nghĩa pháp lý và kinh tế.

Từ thực tiễn nghiên cứu, khảo sát các chuyên gia cho rằng cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách để tháo gỡ những “nút thắt” trong quản lý đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý. Ảnh: L.H
Từ thực tiễn nghiên cứu, khảo sát các chuyên gia cho rằng cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách để tháo gỡ những “nút thắt” trong quản lý đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý. Ảnh: L.H

Theo kết quả nghiên cứu, diện tích rừng và đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý từng tăng mạnh trong giai đoạn 2020 – 2021, sau đó giảm dần từ năm 2023 đến nay khi nhiều địa phương triển khai giao đất, giao rừng. Điều này phản ánh nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc từng bước đưa rừng ra khỏi tình trạng vô chủ để xác lập chủ thể quản lý ổn định, lâu dài.

Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý hiện nay đều tồn tại nhiều tranh chấp, chồng lấn quyền sử dụng đất, chưa được xác định ranh giới rõ ràng ngoài thực địa. Nhiều khu vực chưa hoàn thiện hồ sơ địa chính, chưa cắm mốc, đo đạc đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Một trong những bất cập lớn hiện nay là khoảng trống thể chế trong quản lý đất lâm nghiệp do cấp xã quản lý. Theo ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, mặc dù Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định UBND xã có trách nhiệm quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê, nhưng pháp luật hiện hành lại chưa thiết lập đầy đủ khuôn khổ pháp lý cho việc quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp quy mô lớn trong thời gian dài.

Trong thực tế, UBND xã không phải là chủ rừng hay chủ sử dụng đất theo quy định pháp luật, nhưng lại trực tiếp quản lý diện tích rừng rất lớn. Điều này dẫn đến tình trạng “vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa là đối tượng quản lý”, làm suy giảm hiệu lực quản lý và hạn chế khả năng huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển rừng bền vững.

Cần sớm xác lập “chủ thực sự” cho rừng

Theo nghiên cứu, phần lớn các xã có rừng hiện không có cán bộ chuyên trách lâm nghiệp. Nhiều nơi cán bộ phụ trách phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, môi trường đến giảm nghèo nên không đủ thời gian và chuyên môn để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quản lý rừng.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon đang mở ra cơ hội lớn cho ngành lâm nghiệp. Ảnh: Chu Khôi.
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon đang mở ra cơ hội lớn cho ngành lâm nghiệp. Ảnh: Chu Khôi.

Đáng chú ý, trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường tín chỉ carbon đang mở ra cơ hội lớn cho ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, khi rừng chưa có chủ thể pháp lý rõ ràng, cộng đồng dân cư và các tổ chức địa phương rất khó tham gia các giao dịch carbon hoặc tiếp cận các cơ chế tài chính như REDD+, chi trả dựa trên kết quả giảm phát thải. Điều này khiến hàng triệu ha rừng tiếp tục ở trong tình trạng thiếu nguồn lực đầu tư dài hạn và chưa phát huy được đầy đủ giá trị kinh tế, sinh thái.

Từ thực tiễn nghiên cứu và khảo sát, các chuyên gia cho rằng cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách để tháo gỡ những “nút thắt” trong quản lý đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý.

Các đại biểu tham dự Hội thảo. Ảnh: L.H
Các đại biểu tham dự Hội thảo. Ảnh: L.H

Trước hết, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung Luật Lâm nghiệp cùng các văn bản liên quan theo hướng xác định rõ vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền của UBND cấp xã trong quản lý diện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế coi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng do UBND xã thực hiện là dịch vụ công ích, được Nhà nước đặt hàng và bố trí ngân sách thường xuyên để tổ chức thực hiện.

Theo ông Bùi Giang Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, cùng với việc đẩy nhanh giao đất, giao rừng, cần tập trung đồng bộ hóa dữ liệu rừng sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.

Theo đó, cần rà soát, đo đạc và số hóa toàn bộ bản đồ rừng từ cấp xã; xử lý dứt điểm các tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp phát sinh (nếu có); đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý rừng.

Việc ứng dụng ảnh vệ tinh, công nghệ viễn thám, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng dữ liệu số sẽ giúp nâng cao năng lực giám sát tài nguyên rừng, phát hiện sớm các biến động và giảm áp lực cho lực lượng quản lý tại cơ sở.

Ở góc độ địa phương, ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã Nậm Lầu (tỉnh Sơn La) cho biết, địa phương hiện đang quản lý khoảng 1.600 ha rừng và đất lâm nghiệp. Với đặc thù là xã miền núi có địa hình rộng, chia cắt phức tạp, việc chỉ bố trí một cán bộ phụ trách quản lý toàn bộ diện tích này là gần như không khả thi.

Khó khăn còn đến từ việc nhiều diện tích rừng mới chỉ được bàn giao trên hồ sơ giấy tờ, chưa được xác định ranh giới và cắm mốc cụ thể ngoài thực địa. “Muốn quản lý hiệu quả thì trước hết phải xác định rõ ranh giới, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và xây dựng cơ sở dữ liệu số về rừng”, ông Lộc kiến nghị.

Ngoài đề xuất tăng cường nguồn nhân lực, kinh phí, ông Cầm Bun Lộc cũng mong muốn được hỗ trợ các công cụ giám sát hiện đại như ảnh viễn thám, hệ thống theo dõi bằng vệ tinh, thiết bị bay không người lái để phục vụ quản lý tài nguyên rừng.

Khanh Lê