Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

GS Nguyễn Thục Quyên: Đầu tư hạ tầng nghiên cứu để thu hút nhân tài khoa học

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

GS Nguyễn Thục Quyên: Đầu tư hạ tầng nghiên cứu để thu hút nhân tài khoa học

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trong cuộc trao đổi với phóng viên Tinh Hoa Việt, Giáo sư (GS) Nguyễn Thục Quyên chia sẻ thẳng thắn về những rào cản hiện nay, các cơ hội đang mở ra, cũng như những đề xuất cụ thể để khoa học Việt Nam không chỉ “bắt kịp” mà có thể tạo ra những đột phá trong tương lai.

Trong đó, bên cạnh việc đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, GS người Việt tại Mỹ đề xuất Việt Nam cần có cách tiếp cận cân bằng hơn giữa nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản – hai trụ cột không thể tách rời nếu muốn xây dựng nền khoa học phát triển bền vững trong dài hạn.

GS Nguyễn Thục Quyên (phải) trao Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển cho GS. Maria Esperanza Martínez-Romero (Mexico).
GS Nguyễn Thục Quyên (phải) trao Giải Đặc biệt VinFuture 2025 dành cho nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển cho GS. Maria Esperanza Martínez-Romero (Mexico).

Nhà khoa học không thể chỉ ở trong phòng thí nghiệm

PV: VinFuture đã trải qua 5 mùa tổ chức với dấu ấn tôn vinh những công trình khoa học đột phá của nhân loại, những diễn thuyết lay động và sự hiện diện của các trí tuệ hàng đầu thế giới tại Việt Nam. Với tư cách là đồng Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo VinFuture từ mùa đầu tiên đến nay, bà đánh giá như thế nào về chất lượng các công trình được vinh danh, cũng như tác động và khả năng kết nối của giải thưởng này đối với giới khoa học quốc tế?

“Vai trò của các nhà khoa học là vô cùng quan trọng, nhưng họ không thể chỉ dừng lại trong phòng thí nghiệm. Nhà khoa học cần kết nối với doanh nghiệp, với cộng đồng và với nhà nước. Hiện nay, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vẫn còn lớn do thiếu sự tương tác. Chỉ khi có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước – doanh nghiệp – giới khoa học thì các giải pháp mới khả thi” – GS Nguyễn Thục Quyên.

GS Nguyễn Thục Quyên: Là một giải thưởng “trẻ”, chúng tôi luôn giữ tinh thần học hỏi, lắng nghe ý kiến từ cộng đồng khoa học. Ngay từ năm đầu tiên 2021, giải thưởng đã nhận được 528 đề cử từ 43 quốc gia, với nhiều công trình khoa học có ảnh hưởng lớn, trong đó có những nhà khoa học sau này đạt giải Nobel. Và mùa giải 2025 đã có hơn 1.700 hồ sơ, tăng mạnh so với mùa đầu. Điều đó cho thấy vai trò và uy tín ngày càng rõ nét của Quỹ VinFuture trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Để lựa chọn được các công trình xứng đáng, chúng tôi có sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, là những người có kinh nghiệm sâu trong từng lĩnh vực chuyên môn. Hội đồng Giải thưởng và các hội đồng chuyên môn làm việc rất chặt chẽ, thường xuyên trao đổi, tham vấn lẫn nhau và tham khảo thêm ý kiến từ các chuyên gia độc lập. Nhờ đó, mỗi năm chúng tôi đều lựa chọn được những công trình rất xuất sắc, đa dạng về lĩnh vực và có giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn cao.

Về kỳ vọng sau khi các công trình được trao giải, tôi cho rằng Quỹ VinFuture không chỉ dừng lại ở việc trao thưởng, mà còn mong muốn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng quốc tế. Đó là kêu gọi sự quan tâm và chung tay của các quốc gia, không chỉ trong giới khoa học mà cả ở cấp hoạch định chính sách, đối với những vấn đề quan trọng của nhân loại. Thông qua đó, VinFuture kỳ vọng góp phần thúc đẩy những hướng nghiên cứu và giải pháp có ý nghĩa lâu dài, phục vụ phát triển bền vững trong tương lai.

Bà đánh giá như thế nào về tác động của Giải thưởng VinFuture đối với giới khoa học Việt Nam trong những năm qua?

Điểm đặc sắc của Giải thưởng VinFuture là tôn vinh những giải pháp khoa học có tác động trực tiếp tới đời sống con người. Vấn đề đặt ra là cộng đồng có nắm bắt được cơ hội để đón nhận và tận dụng những đóng góp đó hay không.

Theo tôi, điều này hoàn toàn có thể. Việt Nam đang có cơ hội lớn để tiếp cận và hợp tác với các thành tựu khoa học toàn cầu, từ vaccine, công nghệ y sinh đến năng lượng tái tạo, những lĩnh vực sẽ tác động mạnh mẽ tới sức khỏe và đời sống xã hội trong tương lai.

Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là mua công nghệ mà là tham gia vào quá trình phát triển. Thời gian qua, Quỹ VinFuture đã góp phần đưa Việt Nam lên bản đồ khoa học và công nghệ thế giới, tạo ra những cầu nối giữa các nhà khoa học Việt Nam với các chuyên gia hàng đầu quốc tế. Thực tế đã có những hợp tác cụ thể, như việc Trường Đại học VinUni công bố bài báo khoa học chung với GS Omar M. Yaghi – Chủ nhân Giải thưởng VinFuture 2021 và Giải Nobel Hóa học 2025.

VinFuture đã tạo ra “cây cầu”, vấn đề là các nhà khoa học Việt Nam cần chủ động bước qua để tạo ra những công trình có tầm vóc lớn hơn. Đồng thời, chúng ta cũng cần nhìn xa hơn, chẳng hạn như bài toán tái chế pin xe điện sau sử dụng. Nếu Việt Nam đi trước một bước trong những vấn đề này, cơ hội sẽ đến khi thế giới buộc phải đối mặt.

VinFuture từng ghi nhận người Việt Nam đoạt giải ở mùa đầu tiên, nhưng những mùa sau vắng bóng các nhà khoa học Việt Nam. Theo bà, đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến các đề cử của Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh ở VinFuture những năm gần đây?

Theo tôi, một trong những hạn chế lớn hiện nay là sự thiếu vắng những đột phá mang dấu ấn riêng. Không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang phát triển cũng gặp tình trạng tương tự. Trong quá trình nghiên cứu, chúng ta thường có xu hướng bỏ qua nghiên cứu cơ bản, mà mong muốn nhanh chóng tạo ra một sản phẩm cụ thể do mình làm ra. Tuy nhiên, nếu chỉ đi theo hướng đó thì rất khó tạo ra đột phá, bởi những hướng nghiên cứu hay sản phẩm tương tự thường đã được các nước khác đi trước thực hiện. Khi ấy, chúng ta chủ yếu chỉ điều chỉnh hoặc ứng dụng lại cho phù hợp với điều kiện trong nước, nên giá trị đột phá không cao.

Trừ trường hợp chúng ta có thể làm ra một sản phẩm tương tự nhưng với chi phí thấp hơn rất nhiều, chẳng hạn rẻ hơn hàng chục hay hàng trăm lần, để nhiều người dân có thể tiếp cận và sử dụng hơn. Ở góc độ đó, tác động xã hội vẫn rất đáng ghi nhận và cũng là một hướng tiếp cận cần được xem xét.

Trường hợp của GS Võ Tòng Xuân là một ví dụ tiêu biểu. Ông là người Việt Nam đầu tiên nhận Giải thưởng VinFuture không phải vì phát minh ra một giống lúa hoàn toàn mới, mà vì ông là người trực tiếp “xắn tay áo” làm việc cùng nông dân. Ông xuống đồng, lắng nghe người nông dân, hướng dẫn họ cách canh tác, thuyết phục họ áp dụng các kỹ thuật phù hợp để tạo ra hiệu quả thực sự trong sản xuất. Giá trị ở đây không chỉ nằm ở sản phẩm khoa học, mà ở tác động thực tiễn và sự thay đổi trong đời sống của người dân.

Trong những năm gần đây, tôi nhận thấy giới khoa học Việt Nam đã có sự bắt nhịp nhất định. Trình độ nghiên cứu, khả năng tiếp cận các chuẩn mực khoa học quốc tế và mức độ tham gia vào các hoạt động học thuật đỉnh cao đã được cải thiện rõ rệt, cho thấy sự tiến bộ và hội nhập ngày càng sâu hơn của khoa học trong nước.

GS Nguyễn Thục Quyên, đồng Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo VinFuture.
GS Nguyễn Thục Quyên, đồng Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo VinFuture.

Hiến kế để khoa học công nghệ Việt bứt phá

Từ kinh nghiệm nhiều năm làm việc trong môi trường khoa học quốc tế, bà có thể chia sẻ những góp ý cụ thể để khoa học Việt Nam phát triển bền vững hơn trong giai đoạn hiện nay?

Là người Việt Nam, tôi thấy đất nước mình đang ngày càng phát triển, có nhiều nhân tài, đặc biệt là người Việt Nam rất cần cù, chịu khó và ham học hỏi. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm mà tôi rất mong muốn được chia sẻ.

Tinh thần xuyên suốt và thống nhất của VinFuture từ khi ra đời đến nay là: Khoa học không chỉ phục vụ khoa học, mà phải tạo ra giá trị cho nhân loại và góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Điều đầu tiên là sự đoàn kết và hợp tác. Ông bà ta đã nói “một cây làm chẳng nên non”, vì vậy tôi mong muốn thấy nhiều hơn nữa sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các nhà khoa học trong các trường đại học và viện nghiên cứu. Bởi Việt Nam chưa có đầy đủ điều kiện về máy móc và cơ sở vật chất như các nước phát triển. Nếu chúng ta không hợp tác, mỗi đơn vị làm riêng lẻ thì sẽ rất khó để tiến xa.

Điểm thứ hai là vấn đề cơ sở hạ tầng nghiên cứu. Chúng ta không đủ nguồn lực để mỗi trường đại học hay mỗi địa phương đều xây dựng đầy đủ phòng thí nghiệm và trang thiết bị hiện đại. Điều quan trọng là cần có các cơ sở dùng chung, được trang bị đầy đủ máy móc, để các nhà khoa học ở nhiều nơi có thể cùng tiếp cận, cùng khai thác và hợp tác nghiên cứu.

Liên quan đến thu hút nhân tài, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách khác nhau. Từ kinh nghiệm quốc tế, theo bà, đâu là yếu tố then chốt để các chính sách này thực sự phát huy hiệu quả?

Hiện nay, việc kết nối giữa các nhà khoa học trong nước với quốc tế đã có nhiều chuyển biến tích cực. Việt Nam cũng đang đẩy mạnh các chính sách thu hút chuyên gia nước ngoài và kiều bào về nước làm việc. Tuy nhiên, theo tôi, vấn đề then chốt vẫn nằm ở chỗ: Việt Nam có rất nhiều người tài, nhưng lại chưa giữ được họ.

Chúng ta gửi sinh viên, nhà khoa học đi đào tạo ở nước ngoài, nhưng sau đó nhiều người không trở về. Khi tôi trao đổi với các sinh viên Việt Nam rất giỏi đang làm việc ở nước ngoài, nhiều em nói thẳng rằng: nếu về nước thì không biết sẽ làm gì ngoài việc giảng dạy, trong khi không có phòng thí nghiệm hiện đại hay điều kiện nghiên cứu phù hợp để tiếp tục phát triển chuyên môn. Nếu trong nước có cơ sở hạ tầng nghiên cứu tiên tiến, có những phòng thí nghiệm đủ điều kiện để cống hiến, các em sẵn sàng quay về.

Tôi từng trao đổi rằng nếu Chính phủ đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng nghiên cứu hiện đại, tôi sẵn sàng tham gia hỗ trợ xây dựng những trung tâm như vậy. Đó sẽ là nơi tập hợp và phát huy tài năng của người Việt, đồng thời thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài trở về đóng góp cho đất nước.

Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam vẫn còn xu hướng ưu tiên các nghiên cứu nhanh cho ra sản phẩm ứng dụng, trong khi nghiên cứu cơ bản chưa được đầu tư tương xứng. Theo tôi, phát triển khoa học bền vững cần song song cả hai hướng. Có những đề tài ứng dụng có thể triển khai ngay, nhưng cũng có những nghiên cứu cơ bản phải đặt trong tầm nhìn 5–10 năm. Chẳng hạn, bài toán tái chế pin cho xe điện: muốn giải quyết được vấn đề này trong tương lai, chúng ta phải bắt đầu từ nghiên cứu cơ bản trước, sau đó mới phát triển thành các ứng dụng cụ thể. Hai hướng này không thể tách rời, mà cần được triển khai đồng thời và có chiến lược dài hạn.

Phát triển xanh cần hệ thống luật pháp đủ mạnh

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thế giới đang phải đối mặt với những thách thức môi trường. Theo bà, đâu là thách thức cấp bách nhất?

Khi nói đến bảo vệ môi trường, tôi cho rằng có ba điểm lớn cần được nhấn mạnh. Thứ nhất là những sản phẩm, công nghệ mà chúng ta tạo ra hôm nay sẽ tác động thế nào trong dài hạn. Thứ hai là mức độ sẵn sàng của chúng ta trong việc bảo vệ môi trường. Và quan trọng nhất là giá trị cốt lõi mà quá trình phát triển mang lại.

Thực tế cho thấy, cách thức sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Vì vậy, để hướng tới một thế giới xanh, cần nhìn nhận đây là một bài toán tổng thể, đa ngành, không thể chỉ tiếp cận từ một góc độ duy nhất.

Tuy nhiên, không có một giải pháp chung cho tất cả các quốc gia. Mỗi nước có điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội khác nhau, bài toán phát triển xanh cũng khác nhau. Điều quan trọng nhất là phải đặt người dân, địa thế của đất nước, điều kiện kinh tế và hệ thống luật pháp lên hàng đầu.

Nhiều ý kiến cho rằng phát triển xanh đang mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Quan điểm của bà thế nào?

Doanh nghiệp thì phải đặt lợi nhuận lên hàng đầu, đó là điều rất thực tế. Trên thế giới, nhiều công ty thừa nhận rằng tái chế nhựa hay vật liệu xanh tốn kém hơn so với sản xuất mới, nên họ không mặn mà. Nếu đẩy toàn bộ trách nhiệm sang người tiêu dùng thì rất khó.

Theo tôi, lời giải nằm ở chính sách. Chính quyền cần đưa ra luật lệ buộc doanh nghiệp phải có trách nhiệm với môi trường, chẳng hạn trích một phần lợi nhuận cho tái chế. Nếu để doanh nghiệp tự lựa chọn, họ sẽ chọn phương án có lợi nhuận cao hơn.

Bài toán phát triển bền vững là vấn đề toàn cầu, không quốc gia nào có thể giải quyết một mình. Liên hợp quốc đã đưa ra 17 mục tiêu phát triển bền vững, nhưng thực hiện được hay không phụ thuộc rất lớn vào sự đầu tư và chính sách của các quốc gia. Ví dụ, nếu doanh nghiệp sản xuất sản phẩm xanh nhưng lợi nhuận thấp, nhà nước có thể hỗ trợ bằng cách giảm thuế. Hoặc nếu quy định công trình xây dựng mới phải đạt tiêu chuẩn xanh, doanh nghiệp sẽ buộc phải tuân theo. Nếu không có luật lệ rõ ràng, cần có các cơ chế khuyến khích đủ mạnh.

Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học trong nước với quốc tế, giữa khoa học với doanh nghiệp, với nhà nước và với công chúng. Một thực tế là nhiều nhà khoa học chỉ làm khoa học trong “thế giới của mình”, ít đi ra đối thoại với chính sách và xã hội. Muốn giải quyết các bài toán lớn như phát triển bền vững, cần có sự liên kết đó, nếu không thì dù ý tưởng tốt cũng khó đi vào thực tế.

Trân trọng cảm ơn bà!

GS Nguyễn Thục Quyên là giáo sư Khoa Hóa – Hóa sinh tại ĐH California, Santa
Barbara (UCSB) và là đồng Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo Giải thưởng VinFuture.
GS Nguyễn Thục Quyên từng là cộng tác nghiên cứu tại Khoa Hóa học và Trung tâm Nano tại ĐH Columbia, hợp tác cùng GS Louis Brus và Colin Nuckolls trong lĩnh vực tự lắp ráp phân tử và tính chất của các chất nano-kích thước và các thiết bị liên quan. Bà cũng từng làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu IBM tại T. J. Watson (Yorktown Heights,
New York), hợp tác với GS Richard Martel và Phaedon Avouris trong lĩnh vực điện tử phân tử. Các nghiên cứu của bà tập trung vào tính chất điện tử của polyelectrolytes liên hợp, giao diện trong các thiết bị quang điện tử, tạo và vận chuyển điện tích trong chất bán dẫn hữu cơ, vật liệu mới cho các ứng dụng pin mặt trời hữu cơ, tự lắp ráp phân tử, xử lý vật liệu và đặc tính kích thước nano của pin mặt trời hữu cơ và thiết bị vật lý.
Trong sự nghiệp khoa học, GS Nguyễn Thục Quyên đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá: Giải thưởng Nhà Nghiên cứu trẻ từ Văn phòng Nghiên cứu Hải quân (2005), Giải thưởng Quỹ Khoa học Quốc gia CAREER (2006), Giải thưởng Harold Plous (2007); Giải thưởng Học giả – Giáo viên Camille Dreyfus (2008), giải Nghiên cứu viên Alfred Sloan (2009), Nghiên cứu viên Đổi mới và Năng lực Cạnh tranh Hoa Kỳ của Quỹ Khoa học Quốc gia (2010), Giải thưởng Nghiên cứu Cao cấp Alexander von Humboldt (2015),
Nghiên cứu viên của Hiệp hội Hóa học Hoàng gia (2016).
Đặc biệt, GS Quyên được bình chọn là Top Trí tuệ Khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới trong các năm 2015, 2016, 2017 và 2018 và nằm trong danh sách Top 1% nhà nghiên cứu khoa học vật liệu được trích dẫn nhiều nhất thế giới theo Thomson Reuters và Clarivate Analytics.

Thu Hương