Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Hoàng Xuân Tuyền và hành trình từ “Bến Thời Gian”

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Hoàng Xuân Tuyền và hành trình từ “Bến Thời Gian”

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

1. Hồi này nhà thơ, nhiếp ảnh gia Hoàng Xuân Tuyền không “đảo ngói” nữa. Tóc bồng bềnh, sương khói. Với khuôn mặt xương xương, chiêm nghiệm, tóc trắng lại hợp với anh. Tuyền thừa chất nghệ sỹ, nên càng nghệ sỹ hơn.

Nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền hiện là Giảng viên Học viện Hành chính quốc gia.
Nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền hiện là Giảng viên Học viện Hành chính quốc gia.

Nhiếp ảnh là một nghề hẳn hoi, với những người “tay ngang” như Tuyền, sống chết vì nó, chỉ có thể giải thích bằng đam mê. Chụp ảnh là ghi lại khoảnh khắc. Nhật ký cuộc sống không gì chân thực ngoài ống kính máy ảnh.

Chẳng biết, Hoàng Xuân Tuyền bị “khoảnh khắc” ánh sáng quyến rũ, bỏ bùa tự bao giờ. Anh từng được nhà nước chọn du học ở Liên Xô (cũ), những năm cuối 80, đầu 90 của thế kỷ trước. Chắc hẳn máy ảnh Zenit gắn bó với anh thời đó?

Hoàng Xuân Tuyền là trái tim đa cảm, lãng mạn. Tuyền đến với thơ khá sớm. Vì sao nhắc đến thơ anh khi đang nói chuyện về nhiếp ảnh? Bởi, thơ là thể loại văn học độc nhất, duy nhất, hiện lên đầy đủ chân dung tâm hồn của người viết. Thơ không biết “nói dối”, cả khi ẩn dụ.

“Anh không tin một kiếp nào gặp nữa / Dẫu linh hồn vĩnh viễn chẳng tan đâu / Dẫu giọt nắng trên tay triệu lần là giọt nắng / Nắng bây giờ đâu phải nắng mai sau”, (Viết cho em). Những câu thơ dạt dào, tinh khôi như thế, chỉ có ở những trái tim lãng mạn, không may, sớm ngã ở “thềm yêu”.

Thơ cũng như đời xác tín Tuyền nội tâm. Thơ Tuyền cũng ít diễn tả tâm trạng. Ấy vậy nhưng, dù ít, dù nhiều, Tuyền cũng có những bài thơ tặng chất đầy cảm xúc. Tuyền cũng làm thơ về song thân, con cái, bạn bè. Hay nói cách khác, người thân thành “nhân vật” trữ tình.

2. Hoàng Xuân Tuyền đến với thơ thời còn là học sinh phổ thông ở một ngôi làng  có tên là Làng Bò, xã Phấn Mễ- sau đó là thị trấn Đu, huyện Phú Lương- nay là xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên - nơi có mỏ than thế hệ 6X, 7X về trước được học trong sách.

Tốt nghiệp phổ thông, Tuyền thi đỗ vào Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), sau đó đi học ở Liên Xô (cũ).

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, người cùng du học ở Liên Xô thời này kể rằng, hồi đó Tuyền đã đoạt giải tại cuộc thi thơ ở Nga với bài thơ “Bà mẹ Varonhez”. Sau đó mấy năm anh lại đoạt giải cuộc thi thơ của Hội Văn nghệ Việt Nam toàn Liên bang Nga (thuộc Liên Xô cũ). Hàng loạt bài thơ của Tuyền về đề tài đời sống, lao động, học tập của người Việt ở xứ sở Bạch Dương dần dần được công bố.

“Rất nhiều người Việt ở Nga thuộc, truyền khẩu thơ Tuyền mà cứ tưởng đấy là những bài thơ dân gian, tác giả khuyết danh. Không ai nghĩ tác giả những bài thơ đầy bụi bặm, lam lũ ấy là một anh chàng thư sinh, trông phong phanh như chính cái bóng của mình” - nhà thơ tác giả “Hạt gạo làng ta” nhớ lại.

Sau khi về nước, Tuyền còn đoạt giải Nhì cuộc thi dịch thơ của Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Tuyền làm thơ, viết báo, viết phê bình, kể cả “húc đầu” vào những cuộc tranh luận văn chương, thường không có hồi kết…

Hoàng Xuân Tuyền là Hội viên, thành viên Hội đồng thơ của Hội Nhà văn Hà Nội. Nhưng anh in khá ít. Cho đến nay Tuyền mới in sau “Bến Thời gian’, (năm 2001), “Tự do” (năm 2016) và “Độc lập”, (năm 2025), in chung cùng 4 nhà thơ khác. Ngoài thơ, anh có thêm tập truyện ngắn “Thì nói thật” (năm 2002).

Chỉ ba tập thơ thôi, nhưng đại diện cho ba lối rẽ, ba bước chuyển hướng thơ Tuyền. Sau “Bến Thời gian”, người đọc dễ nhận ra, “Hoàng Xuân Tuyền tự giao cho mình một nhiệm vụ cheo leo là tìm thơ ở chỗ thơ ít khi trú ngụ”, như nhận xét của nhà thơ, nhà phê bình Vũ Quần Phương. Đọc thơ Tuyền từ “Tự do” đến “Độc lập”, tôi thấy, Tuyền ngày càng hướng đến tìm tòi mỹ cảm ở những giá trị đã thành phổ quát của nhân thế.

Sinh thời Huy Cận “dị ứng” khi các là lý luận phê bình nói đến thơ trí tuệ, nhưng ông cũng phải công nhận “Trong sự xúc cảm tổng thể của thơ, có sự rung cẩm của trí tuệ”. Hiện thực được nuôi dưỡng trong “khí hậu tâm hồn” Tuyền, khúc xạ thành “hạt nổ”, từ đó mới làm bừng thức cảm xúc tổng thể. Đó là sự khác lạ của thơ Tuyền.

Hoàng Xuân Tuyền có tập thơ mang tên “Tự do”, trong tập “Độc lập” có bài thơ “Lục bát tự do”. Trong bài thơ có 9 khổ này có đến 30 cặp từ “tự do”. Điều thú vị là khi viết về “tự do” Tuyền lại sử dụng thi pháp niêm luật là lục bát. Thơ Tuyền tối giản bao nhiêu thì lại phóng túng về các triển khai tứ thơ bấy nhiêu.

 “Tự do! Nào tự do nào / Tự ta chọn, tự mình trao cho mình”, hai câu cuối của khổ 8, anh đã đẩy lên thành triết lý sống. Tự do chỉ có thể có khi nắm được tất yếu.

3. Tôi đặc biệt thích bài “Tiếng sáo người mù”. Bài thơ là tình cảm của tác giả trước những số phận không may, đại diện cho những người không may mắn, dễ bắt gặp trong xã hội.

“Những ngón tay khô / Lần theo đốt trúc / Chiều lên thăm thẳm / Chiều lan mênh mông / Lần theo tiếng sáo”. Cuộc sống quanh ta còn biết bao số phận yếm thế, cần được xã hội chia sẻ, cưu mang. Người mù thổi sáo trong bài thơ của Tuyền chỉ là một trong số đó. Với họ cần trái tim, tấm lòng bồ tát của cộng đồng. Hiện thực thức tỉnh cưu mang, phát tâm bồ đề.

Thơ Hoàng Xuân Tuyền vừa dễ đọc vừa khó đọc. Và dù có viết về đề tài gì, vẫn bộc lộ bản thể sáng tạo, tác giả có trái tim ấm áp, nhân hậu.

Trong Tựa cho tập thơ "Bến thời gian" của Tuyền, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Hiện thực trong thơ Tuyền là hiện thực dị thường”. Sau này nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm gọi đó là "hiện thực nhòe mờ" hoặc "hiện thực hư ảo". Tuyền có cách quan sát khác người, nhận ra những dị thường. Nói cách khác, Tuyền là nhà thơ của những “cảm xúc dị thường”.

Tuyền thăm thẳm mà day dứt. Thơ anh thường “bùng lên” ở khổ cuối, câu cuối. Tựa như đấy là “ngòi nổ” được kích hoạt, tạo ra khoái cảm.

Ngô Đức Hành