Hơn 50 tỷ đồng đặt hàng nghiên cứu, làm sao nhân rộng mô hình liên kết?
Những đơn đặt hàng nghiên cứu, phát triển trị giá trên 50 tỷ đồng tại Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy tiềm năng kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp. Dù vậy, nhiều mô hình hợp tác vẫn chưa phổ biến do thiếu nguồn lực hoàn thiện công nghệ, đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp và cơ chế đưa sản phẩm ra thị trường.
Khi doanh nghiệp tham gia từ đầu
Liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp được xem là một hướng quan trọng để đưa kết quả khoa học, công nghệ vào thực tiễn. Thay vì nghiên cứu riêng lẻ rồi mới tìm kiếm đơn vị tiếp nhận, những mô hình hiệu quả cho thấy doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu đến thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm.
Một ví dụ là Chương trình trí tuệ nhân tạo tại biên (Edge AI), được phê duyệt năm 2025, giao Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì với 24 nội dung nghiên cứu, tổng kinh phí dự kiến 20 tỷ đồng trong giai đoạn 2025-2028.
Trong mô hình này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt hàng theo định hướng ưu tiên và cấp kinh phí ban đầu; các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an tham gia với vai trò khách hàng công, trực tiếp xác định yêu cầu kỹ thuật. Nhà trường tổ chức nghiên cứu, đào tạo nhân lực, trong khi doanh nghiệp tham gia cung cấp bài toán thực tế, môi trường thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm.
Một số kết quả bước đầu đã được ghi nhận, như robot điều khiển từ xa hoạt động ở độ sâu 95 m phục vụ ngành dầu khí, thiết bị sinh trắc học tích hợp theo Luật Căn cước và hệ thống nhận dạng sinh trắc học kiểm soát ra vào được thử nghiệm tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
Điểm đáng chú ý của mô hình là nghiên cứu gắn với nhu cầu sử dụng cụ thể. Khi đơn vị tiếp nhận tham gia từ đầu, các yêu cầu về tính năng, điều kiện vận hành và khả năng ứng dụng có thể được xác định rõ hơn, qua đó giảm khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu với nhu cầu thực tế.
Ở lĩnh vực hạ tầng, chương trình nghiên cứu cơ sở khoa học, lựa chọn danh mục tiêu chuẩn và giải pháp kỹ thuật cho đường sắt tốc độ cao do Trường Đại học Giao thông vận tải chủ trì từ năm 2026, với sự tham gia của 7 doanh nghiệp.
Đến nay, khung kiến trúc hệ thống tiêu chuẩn đường sắt tốc độ cao đã được Bộ Xây dựng tiếp nhận; hồ sơ thiết kế điển hình dầm cầu được tư vấn trong nước và quốc tế thẩm tra; kết cấu đường ray không đá ba lát đã được thử nghiệm ở quy mô phòng thí nghiệm. Đây là ví dụ cho thấy những dự án hạ tầng quy mô lớn có thể trở thành đầu bài nghiên cứu trong nước, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp tham gia phát triển và tiếp nhận công nghệ.
Tạo đầu mối kết nối nghiên cứu với thị trường
Bên cạnh các chương trình nghiên cứu cụ thể, việc hình thành những mạng lưới và thiết chế trung gian cũng góp phần kết nối nguồn lực khoa học, công nghệ với nhu cầu doanh nghiệp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin, đến nay đã hình thành 13 mạng lưới trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng về công nghệ 4.0, với hơn 350 thành viên, đề xuất phát triển hơn 100 sản phẩm công nghệ.
Một mô hình khác là Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội, có quy mô 22,9 ha, tích hợp phòng thí nghiệm, vườn ươm, quỹ đầu tư và doanh nghiệp.
Năm 2025, công viên làm việc với 15 tập đoàn, doanh nghiệp, ký kết hợp tác với 7 doanh nghiệp và tiếp nhận các đơn đặt hàng nghiên cứu, phát triển trị giá trên 50 tỷ đồng. Đáng chú ý, Tập đoàn MK Group cam kết đầu tư khoảng 20 tỷ đồng để phát triển chip ảnh nhiệt và thành lập doanh nghiệp khởi nguồn.
Những con số này cho thấy vai trò của đầu mối kết nối chuyên nghiệp trong việc đưa các bên đến gần nhau hơn. Ngoài năng lực nghiên cứu, quá trình thương mại hóa còn cần hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, pháp lý, thử nghiệm và tìm kiếm khách hàng.

Vì sao mô hình hiệu quả chưa được nhân rộng?
Dù đã xuất hiện những kết quả tích cực, theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo PGS.TS Phạm Quang Hưng, các mô hình liên kết hiệu quả vẫn chưa phổ biến, quy mô còn hạn chế và tập trung tại một số địa bàn có điều kiện thuận lợi.
Một trong những điểm nghẽn là nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp chưa được chuyển thành các đơn đặt hàng có kinh phí, sản phẩm đầu ra, thời hạn và cam kết tiếp nhận rõ ràng. Không ít kết quả nghiên cứu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu nguồn lực để hoàn thiện công nghệ, chế tạo mẫu, thử nghiệm và chứng nhận trước khi đưa ra thị trường.
Khó khăn về định giá, quyền khai thác và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ cũng ảnh hưởng đến khả năng hợp tác. Dù cơ chế tự chủ đã được mở rộng, một số cơ sở giáo dục đại học vẫn thiếu quy trình quản trị tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ phù hợp. Tâm lý e ngại trách nhiệm khi góp vốn, chuyển giao hoặc thành lập doanh nghiệp khởi nguồn cũng khiến cơ hội hợp tác chưa được khai thác đầy đủ.
Bên cạnh đó, các văn phòng chuyển giao công nghệ chưa vận hành chuyên nghiệp ở nhiều cơ sở. Việc kết nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn phân tán, trong khi nguồn vốn cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ – giai đoạn quyết định khả năng thương mại hóa – chưa đáp ứng nhu cầu.
Nhân rộng bằng đơn đặt hàng và kết quả thực chất
Để thúc đẩy liên kết viện, trường với doanh nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất thí điểm Chương trình liên minh nghiên cứu hợp tác “3 Nhà”, trong đó ngân sách nhà nước và doanh nghiệp cùng tham gia tài trợ dự án. Việc giải ngân được gắn với các mốc kết quả, đồng thời xác nhận phần kinh phí đối ứng của doanh nghiệp.
Cùng với đó, cần phát triển các thiết chế trung gian chuyên nghiệp, công viên khoa học, công nghệ và trung tâm đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, kiểm định, chứng nhận và kết nối thị trường. Các cơ sở giáo dục đại học cần có cơ chế rõ ràng về quản lý tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ và phân chia lợi ích giữa các bên.
Quan trọng hơn, mỗi nhiệm vụ hợp tác cần xuất phát từ bài toán thực tế, xác định rõ sản phẩm đầu ra, nguồn lực, thời hạn và đơn vị tiếp nhận. Hiệu quả không nên chỉ được đánh giá bằng số nhiệm vụ nghiên cứu hay thỏa thuận hợp tác, mà cần gắn với khả năng ứng dụng, doanh thu chuyển giao và nguồn lực doanh nghiệp thực sự đầu tư.

