Khoáng sản thất thu
Dù được khai thác với quy mô lớn song đóng góp ngân sách từ ngành khoáng sản lại rất hạn chế. Ở một số địa phương như Phú Yên, số thu thuế tài nguyên từ khai thác khoáng sản chỉ đạt khoảng 4 - 5 tỷ đồng dù số lượng giấy phép còn hiệu lực của tỉnh này còn đến 200 giấy phép. Số thu này không đủ bù chi phí quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản.

Quản lý chặt chẽ hơn nữa trong việc cấp quyền khai thác.
Cảnh báo trữ lượng
Số liệu từ tổ Liên minh Khoáng sản cho biết, cả nước đã cấp phép hơn 4.200 giấy phép khai thác khoáng sản, chỉ có 500 giấy phép do cấp trung ương cấp còn lại các địa phương cấp. Năm 2012, khi Bộ TN và MT kiểm tra 957 giấy phép do địa phương cấp phát hiện có đến hơn 50% giấy phép cấp sai quy định. Việc cấp phép dễ nhưng khó quản lý hoặc không quản lý được hoạt động khai thác khoáng sản dẫn đến hàng loạt hệ lụy về môi trường, thu ngân sách, xã hội… xảy ra trong thời gian vừa qua tại nhiều địa phương.
Theo điều phối viên Liên minh Khoáng sản, Việt Nam sở hữu hơn 5.000 điểm mỏ của 60 loại khoáng sản. Hơn 2 thập kỷ qua, ngành khoáng sản của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng về mặt quy mô đã đưa Việt Nam đứng thứ 7 về khai thác dầu thô ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương và sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp chuyên hoạt động khai khoáng. Và do đó, trữ lượng các tài nguyên khoáng sản ít dần.
Thực trạng trên cũng được TS. Nguyễn Thành Sơn - nguyên Giám đốc Ban Quản lý Các dự án than Đồng bằng sông Hồng cụ thể hóa bằng những con số khá rõ ràng. Theo TS. Sơn, thế giới công bố có hơn 200 loại khoáng sản nhưng Việt Nam chỉ có 60 loại khoáng sản. Tuy vậy, hiện chúng ta mới chỉ thăm dò, khai thác được một nửa số đó (30/60 loại) và so với nhu cầu thì chúng ta thiếu 4/20 khoáng sản quan trọng phục vụ phát triển công nghiệp. Nhưng nhiều người vẫn lầm tưởng nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên.
Thời gian qua vì không có chính sách và quy hoạch tổng thể về tài nguyên khoáng sản dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, xuất khẩu ồ ạt cộng với việc dùng công nghệ lạc hậu khai thác đã khiến tài nguyên của đất nước “chảy máu” trầm trọng trong nhiều năm liền. Hệ lụy từ việc cấp phép khai thác khoáng sản tràn lan cũng khiến nhiều hộ gia đình điêu đứng vì thiếu hoặc mất hẳn đất sản xuất. Phần lớn các mỏ khai thác tại một số địa phương chưa xây dựng bãi thải theo đúng quy định, gây bồi lấp dòng chảy, ruộng vườn; làm thu hẹp diện tích đất lâm nghiệp; gây hỏng cầu cống, đường sá…
TS. Sơn cảnh báo nếu vẫn tiếp tục khai thác như hiện nay, sau năm 2021, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khoáng sản với khối lượng rất lớn, thậm chí lớn hơn khối lượng đã xuất khẩu trong những năm qua.
Cấp phép cần phải giám sát
Dù được khai thác với quy mô lớn song đóng góp ngân sách từ ngành khoáng sản lại rất hạn chế. Theo tính toán từ số liệu thống kê của Bộ Tài chính, số thu thuế tài nguyên ngoài dầu khí chỉ đạt 0,9% - 1,1% tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2013. Ở một số địa phương như Phú Yên, số thu thuế tài nguyên từ khai thác khoáng sản chỉ đạt khoảng 4 – 5 tỷ đồng dù số lượng giấy phép còn hiệu lực của tỉnh này còn đến 200 giấy phép. Số thu này không đủ bù đắp các chi phí quản lý Nhà nước về hoạt động khoáng sản.
Bà Nguyễn Thị Cúc, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết: Thu thuế tài nguyên khoáng sản năm 2013 là 4,6% tổng thu ngân sách, trong đó thu thuế từ các tài nguyên khác (ngoài dầu mỏ) chỉ là 0,98%. Năm 2014 thu thuế khai thác tài nguyên chiếm 4,4% tổng thu ngân sách, trong đó thuế từ tài nguyên khác đạt 1,25%. Trong tổng thu ngân sách, thuế thu được từ khai thác các tài nguyên khác rất nhỏ, ý nghĩa thu ngân sách không lớn.
Cũng theo bà Nguyễn Thị Cúc: Tài nguyên khoáng sản của chúng ta nhiều, số lượng giấy phép lớn, nhưng tiền thuế thu được lại không nhiều. Rõ ràng, cách quản lí của chúng ta có vấn đề. Cơ quan thuế chỉ quyết toán thuế theo hoá đơn, chứng từ. Chúng tôi không giám sát được sản lượng thực tế khai thác của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm. Nếu doanh nghiệp khai không đúng, cơ quan tài nguyên môi trường cần phải vào cuộc để thanh, kiểm tra, được quyền ấn định sản lượng để thu thuế. Cơ quan tài nguyên môi trường đã cấp phép thì phải giám sát, không thể cấp phép xong rồi bỏ đấy.
Theo các chuyên gia khoáng sản, quản lý tài nguyên khoáng sản đã có Luật khoáng sản, quản lý thuế về khoáng sản đã có Luật Thuế Tài nguyên và nhiều văn bản pháp luật khác. Đã đến lúc cơ quan quản lý khoáng sản và cơ quan thuế cần phải bắt tay phối hợp cùng quản lý, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp khai thác khoáng sản. Cần siết chặt hoạt động khai thác khoáng sản từ khâu cấp phép đến khai thác, sử dụng, xác định thực sản lượng khai thác, sử dụng để tính thuế tài nguyên đúng, đủ, bảo đảm công bằng, minh bạch.