Báo Đại Đoàn Kết Chính trị

Khởi nghĩa Nam Kỳ: Bài học sáng ngời về khí phách người cộng sản kiên trung

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Khởi nghĩa Nam Kỳ: Bài học sáng ngời về khí phách người cộng sản kiên trung

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trở thành biểu tượng sáng ngời của khí phách người cộng sản; để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc và hun đúc nguồn sức mạnh tinh thần to lớn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Sáng 26/8, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM phối hợp cùng Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) tổ chức hội thảo khoa học "Khởi nghĩa Nam Kỳ - Sáng ngời chí khí cách mạng, tấm gương cộng sản kiên trung".

Ban chủ trì hội thảo khoa học. Ảnh: Thành Luân.
Ban chủ trì hội thảo khoa học. Ảnh: Thành Luân.

Tham dự hội thảo khoa học có đại diện lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Thành ủy, Tỉnh ủy phía Nam, các nhân chứng, chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử TPHCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ và Cà Mau.

Cờ đỏ sao vàng tung bay trong khởi nghĩa Nam Kỳ

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Trần Văn Khuyên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM đã ôn lại lịch sử giai đoạn tiền khởi nghĩa Nam Kỳ, với bối cảnh sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (tháng 9 năm 1939), thực dân Pháp ở Đông Dương tăng cường đàn áp cách mạng, thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ, khủng bố người yêu nước; đồng thời ra sức vơ vét nhân lực, vật lực phục vụ chiến tranh.

Ông Trần Văn Khuyên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Thành Luân.
Ông Trần Văn Khuyên, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Thành Luân.

Từ tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng phát-xít Đức. Tại Đông Dương, phát xít Nhật từng bước ép thực dân Pháp chấp nhận cho Nhật đưa quân vào, ráo riết thực hiện âm mưu hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương.

Trước những biến chuyển ấy, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11 năm 1939) tại Bà Điểm, Hóc Môn chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chuẩn bị các điều kiện tiến tới khởi nghĩa vũ trang.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 11 năm 1940), sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo tình hình Nam Kỳ, Trung ương nhận định các điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi, chưa bảo đảm khả năng thắng lợi, nên quyết định hoãn khởi nghĩa ở Nam Kỳ.

Tuy nhiên, thời điểm này ở Nam Kỳ, cuộc chiến tranh Pháp - Xiêm (1940 - 1941) bùng nổ, dẫn đến phong trào phản chiến mạnh mẽ của binh lính người Việt trong quân đội Pháp. Trước tình hình đó, ngày 20 tháng 11 năm 1940, Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ họp khẩn cấp quyết định phát lệnh khởi nghĩa vào lúc 24 giờ ngày 22 tháng 11 năm 1940, lấy Sài Gòn - Chợ Lớn làm nơi phát lệnh và là trung tâm quyết định thắng lợi của khởi nghĩa.

Ngày 22 tháng 11 năm 1940, đồng chí Phan Đăng Lưu mang chỉ thị hoãn khởi nghĩa về đến Sài Gòn nhưng lệnh khởi nghĩa đã được phát xuống các địa phương, không thể thu hồi được. 

Đúng thời gian quy định, khởi nghĩa bùng nổ tại 18/21 tỉnh, thành phố Nam Kỳ, tiêu biểu ở Hóc Môn (Bà Điểm, Gia Định), Cai Lậy (Mĩ Tho), Vũng Liêm (Vĩnh Long). Lực lượng khởi nghĩa tiến công vào bộ máy chính quyền địch, phá tề, trừ gian, đánh đồn bốt, phá giao thông, liên lạc; tại nhiều địa phương, chính quyền cách mạng được thành lập và giữ quyền làm chủ trong một thời gian. Đông đảo nông dân, dân nghèo thành thị, nhân sĩ, trí thức và đồng bào Kinh, Hoa, Khmer, Chăm tham gia. Đặc biệt, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được giương cao trong một cuộc khởi nghĩa.

Theo ông Trần Văn Khuyên, do thời cơ chưa chín muồi, lực lượng cách mạng còn non yếu, nhất là ở đô thị; công tác giữ bí mật còn nhiều hạn chế, kế hoạch bị lộ, thực dân Pháp kịp thời đối phó nên khởi nghĩa thất bại. "Sự hi sinh anh dũng của các đồng chí đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khí phách người cộng sản, của lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc và trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn đối với các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Bà Nguyễn Thị Hồng Trang, Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai phát biểu. Ảnh: Thành Luân.
Bà Nguyễn Thị Hồng Trang, Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai phát biểu. Ảnh: Thành Luân.

Phát biểu tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Hồng Trang, Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai cho biết, trong giai đoạn diễn ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, tại tỉnh Biên Hòa (cũ) là một trong những địa bàn quan trọng của phong trào cách mạng Nam Bộ. Công nhân cao su tại các đồn điền Phú Riềng, Tân Triều, Bình Ý,… phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, bị thực dân Pháp bóc lột nặng nề. Từ thực tiễn đấu tranh, các tổ chức Đảng từng bước được xây dựng và củng cố, lãnh đạo phong trào công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy lâm thời, các chi bộ tổ chức rải truyền đơn tại ga xe lửa Biên Hòa, xã Bình Trước, nhà máy cưa BIF với các khẩu hiệu như “chống thực dân Pháp bắt lính sang châu Âu”, “đả đảo thực dân Pháp đầu hàng phát-xít”,… Công nhân cao su tổ chức nhiều cuộc bãi công, nông dân tham gia biểu tình, học sinh, trí thức tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng.

"Những hoạt động đó đã góp phần xây dựng cơ sở chính trị, tập hợp lực lượng và tạo tiền đề để Đảng bộ và Nhân dân Biên Hòa tích cực tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940", Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đồng Nai nhấn mạnh.

Về hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu từ khởi nghĩa Nam Kỳ, ông Phạm Chánh Trực, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM nhấn mạnh: "Sức mạnh của Nam Kỳ Khởi nghĩa xuất phát từ sự tin yêu, đùm bọc của nhân dân dành cho cán bộ cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong khởi nghĩa đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết".

Đối với Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng), hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong nhiều cuộc biểu tình và những nơi đã thành lập chính quyền cách mạng là một sự kiện đặc biệt. Từ đây, các cao trào cách mạng đã có sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang của quần chúng.

Cùng với quần chúng, các lực lượng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ đã chiến đấu vô cùng oanh liệt, nêu lên nhiều tấm gương chiến đấu quên mình, sáng tạo nhiều cách đánh phong phú. các lực lượng này đã trở thành một trong những lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên.

Những bài học quý báu từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ

Tại hội thảo, ông Phạm Chánh Trực, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM đã chia sẻ nhiều bài học của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và coi đây là những bài học có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.

Ông Phạm Chánh Trực, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM phát biểu tham luận. Ảnh: Thành Luân.
Ông Phạm Chánh Trực, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM phát biểu tham luận. Ảnh: Thành Luân.

Theo ông Trực, các vị lãnh đạo Nam Kỳ Khởi nghĩa đều bước vào con đường cách mạng khi tuổi đời còn rất trẻ, sẵn sàng gác lại tình cảm cá nhân, lợi ích riêng và sự an toàn của bản thân vì độc lập của dân tộc. Vì vậy, thế hệ hôm nay, nhất là thế hệ trẻ cần tự giác rèn luyện, định hình lý tưởng sống rõ ràng, không sống hoài, sống phí. Đồng thời, biến lòng yêu nước thành hành động cụ thể hằng ngày thay vì những lời nói suông và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tình nguyện và đóng góp cho phát triển địa phương.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy chưa thành công về mặt quân sự nhưng đã thể hiện sự nhạy bén chính trị, tinh thần chủ động sáng tạo của Đảng trong việc nhận định và nắm bắt thời cơ và việc xây dựng lực lượng quần chúng. Bài học rút ra về tư duy linh hoạt, giải quyết vấn đề. Trong đó, việc chủ động ứng biến trước các biến động của đời sống, giúp nâng cao năng lực tư duy phản biện và sáng tạo trong lao động.

"Học tập tấm gương của các anh hùng Nam Kỳ Khởi nghĩa không phải là điều gì quá xa xôi, mà chính là việc làm tốt nhất công việc hiện tại của mình với tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh và lòng tự tôn dân tộc cao nhất", nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM gửi thông điệp đến thế hệ trẻ hôm nay.

Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) phát biểu tham luận. Ảnh: Thành Luân.
Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) phát biểu tham luận. Ảnh: Thành Luân.

Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam (Bộ Quốc phòng) đánh giá, khởi nghĩa Nam Kỳ là “tiếng súng báo hiệu cuộc khởi nghĩa toàn quốc đang đến, nhân dân các dân tộc Đông Dương đã kiên quyết đứng lên dùng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của bọn thực dân và bè lũ tay sai”.

Cuộc khởi nghĩa là thành quả của tinh thần đấu tranh anh dũng quật cường của đồng bào Nam Bộ, là kết quả của quá trình triển khai nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu sử dụng bạo lực cách mạng để khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn Nam Bộ.

Tham luận tại hội thảo, PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TPHCM) nhấn mạnh, kết quả trực tiếp của cuộc khởi nghĩa cũng cho thấy những vấn đề mà phong trào chưa giải quyết được đầy đủ về thời cơ, tổ chức lực lượng, sự phối hợp giữa các địa bàn và khả năng bảo toàn tổ chức trước sự phản kích của đối phương.

Chính sự đan xen giữa tầm vóc của cuộc nổi dậy và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn năm 1940 là một cơ sở để nhận diện đầy đủ hơn vị trí của Khởi nghĩa Nam Kỳ trong những chuyển biến của phong trào cách mạng Nam Bộ sau đó.

PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TPHCM) phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Thành Luân.
PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TPHCM) phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Thành Luân.

Từ cuộc khởi nghĩa, PGS.TS Lưu Văn Quyết cho rằng, tầm vóc của cuộc khởi nghĩa trước hết nằm ở tinh thần tiến công, sức huy động quần chúng và sự hy sinh to lớn của những người tham gia; đồng thời, chính thực tiễn quyết liệt của cuộc khởi nghĩa đã đặt ra những vấn đề về thời cơ, lực lượng, tổ chức và địa bàn mà phong trào phải tiếp tục đối diện trong những năm sau đó.

"Đặt trong tiến trình từ năm 1940 đến Cách mạng Tháng Tám và những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, những giá trị và trải nghiệm lịch sử ấy càng làm rõ vị trí đặc biệt của Khởi nghĩa Nam Kỳ trong lịch sử cách mạng Nam Bộ", PGS.TS Lưu Văn Quyết nhấn mạnh.

Tại hội thảo khoa học, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh nhiều bài học, ý nghĩa lịch sử làm sáng tỏ vị trí, tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Nam Kỳ trong tiến trình cách mạng Việt Nam; làm rõ hơn bối cảnh lịch sử, chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam Kỳ, quá trình chuẩn bị, diễn biến, tính chất và những đóng góp của cuộc khởi nghĩa. Qua đó, tiếp tục khẳng định giá trị lịch sử của Khởi nghĩa Nam Kỳ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc phát triển thành phố và đất nước hôm nay.

THÀNH LUÂN