Khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số
Sự bùng nổ của phim ảnh, âm nhạc, xuất bản và các sản phẩm sáng tạo trên nền tảng số đang mở ra những cơ hội mới cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Để văn hóa số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, việc khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, bản quyền và hạ tầng quản lý đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Văn hóa số tạo ra những giá trị kinh tế mới
Những năm gần đây, thị trường các sản phẩm văn hóa Việt Nam ghi nhận sự chuyển động mạnh mẽ. Nhiều bộ phim đạt doanh thu cao, các chương trình âm nhạc thu hút hàng triệu khán giả, sách điện tử và xuất bản phẩm số ngày càng phổ biến. Cùng với đó, sự phát triển của các nền tảng trực tuyến đã mở rộng đáng kể không gian tiếp cận công chúng, tạo thêm cơ hội cho các cá nhân, tổ chức hoạt động sáng tạo.
Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách thức một sản phẩm văn hóa được sáng tạo, phân phối và khai thác. Nếu trước đây, một bộ phim chủ yếu được phát hành tại rạp, một ca khúc được phổ biến qua đĩa nhạc, phát thanh hay truyền hình, thì nay, thông qua các nền tảng số, sản phẩm có thể nhanh chóng tiếp cận công chúng ở nhiều địa phương, quốc gia và vùng lãnh thổ. Không gian số vì thế không còn đơn thuần là một kênh truyền thông, mà đang từng bước hình thành một thị trường văn hóa mới, nơi các tác phẩm sáng tạo có thể được khai thác và tạo ra giá trị kinh tế liên tục.
Số liệu từ Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) cho thấy, năm 2025, doanh thu tiền sử dụng quyền tác giả đạt hơn 424,3 tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước. Đáng chú ý, riêng nguồn thu từ website và các ứng dụng số đạt gần 298 tỷ đồng. Những con số này phần nào cho thấy xu hướng dịch chuyển mạnh mẽ của hoạt động khai thác tài sản trí tuệ sang môi trường số.
Sự tăng trưởng của thị trường đang mở ra nền tảng quan trọng để Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh mới. Song, thị trường càng mở rộng, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ càng trở nên cấp thiết. Bởi khi một tác phẩm có thể bị sao chép, phát tán và khai thác trái phép chỉ bằng vài thao tác, những người sáng tạo sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp.
Một bộ phim bị quay lén và phát tán trái phép có thể thất thoát nguồn doanh thu đáng kể. Một ca khúc được sử dụng rộng rãi nhưng không thực hiện nghĩa vụ bản quyền đồng nghĩa với quyền lợi của tác giả bị xâm phạm. Các tác phẩm bị sao chép, chỉnh sửa hoặc khai thác trái phép trên môi trường số cũng gây thiệt hại cho không chỉ tác giả mà còn cho đơn vị sản xuất, phát hành và toàn bộ thị trường sáng tạo.
Ông Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Dipnet cho rằng, một trong những hạn chế hiện nay là thiếu một hạ tầng số tích hợp cho quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng. Các công cụ hiện hành đang vận hành rời rạc, chưa hình thành được cơ chế thống nhất trong định danh tài sản, xác thực chủ thể quyền và theo dõi vòng đời khai thác tác phẩm. Điều này dẫn đến khó khăn trong kiểm soát việc sử dụng, cũng như trong việc ghi nhận và đối soát thông tin giữa các bên liên quan.
Còn theo TS Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên Đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, dù Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi theo Luật số 131/2025/QH15 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP đã cho phép ngoại lệ khai thác văn bản cho mục đích nghiên cứu phi thương mại. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng trống về nghĩa vụ minh bạch dữ liệu huấn luyện khiến chủ thể quyền sở hữu không có công cụ tự phát hiện vi phạm.
Khơi thông hạ tầng mềm cho nền kinh tế sáng tạo
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tốc độ phát triển của công nghệ đang nhanh hơn khả năng thích ứng của nhiều quy định pháp luật và cơ chế quản lý. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đang đặt ra hàng loạt vấn đề mới đối với lĩnh vực văn hóa và sở hữu trí tuệ.
Phát triển văn hóa số, vì thế, không chỉ đơn thuần là đưa các hoạt động văn hóa lên môi trường internet hay số hóa các sản phẩm truyền thống. Quan trọng hơn, đó là quá trình xây dựng một nền kinh tế sáng tạo mới, nơi tri thức, ý tưởng và tài năng được tôn trọng, bảo vệ và chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Trong hành trình ấy, khơi thông các điểm nghẽn về thể chế và sở hữu trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một thị trường chỉ có thể phát triển lành mạnh khi quyền lợi của người sáng tạo được bảo đảm; một nền công nghiệp văn hóa chỉ có thể lớn mạnh khi tài sản trí tuệ được tôn trọng và bảo vệ; còn văn hóa số chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới khi sáng tạo được đặt trong một môi trường pháp lý minh bạch, an toàn và theo kịp sự vận động của thời đại.
Theo ông Bùi Minh Tuấn, cần xây dựng một cơ chế hạ tầng có tiêu chuẩn thống nhất nhằm tích hợp các chức năng định danh tài sản trí tuệ, xác thực chủ thể quyền và quản lý vòng đời khai thác, qua đó tăng cường tính minh bạch, khả năng truy xuất và hiệu quả thực thi quyền tác giả và quyền liên quan.
TS Hoàng Minh Hiếu cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cũng như tăng cường hiệu quả thực thi của các quy định hiện hành và bảo đảm nguồn lực để quy định đi vào đời sống. Thực hiện đầy đủ các vai trò đó là điều kiện để quyền sở hữu trí tuệ trở thành một hạ tầng mềm vững chắc, thúc đẩy nền kinh tế số Việt Nam phát triển an toàn, nhân văn và tự chủ trong hội nhập quốc tế.
Khơi thông điểm nghẽn về thể chế, bản quyền và hạ tầng số chính là tạo nền tảng để nguồn lực sáng tạo được bảo vệ và phát huy. Khi người sáng tạo được bảo đảm quyền lợi, doanh nghiệp có niềm tin đầu tư và thị trường vận hành minh bạch, văn hóa số sẽ không chỉ là xu hướng mà trở thành động lực mới cho nền kinh tế sáng tạo Việt Nam.