Khơi thông nguồn lực, để người dân hưởng lợi từ di sản
Di sản văn hóa không chỉ lưu giữ ký ức của quá khứ mà còn là nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, để nguồn lực ấy thực sự tạo ra giá trị kinh tế và xã hội, cần khơi thông thể chế, phát huy sức sáng tạo của con người, đồng thời bảo đảm cộng đồng được tham gia và hưởng lợi xứng đáng từ chính di sản mà mình gìn giữ.
Phát huy nguồn lực sáng tạo
Trong bối cảnh văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, việc chuyển hóa giá trị di sản thành các sản phẩm, dịch vụ văn hóa không chỉ mở ra cơ hội phát triển kinh tế mà còn góp phần lan tỏa bản sắc dân tộc. Từ du lịch di sản, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ đến các sản phẩm sáng tạo trên nền tảng số, di sản có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống đương đại. Song, quá trình này đòi hỏi cách tiếp cận hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, giữa mục tiêu kinh tế với trách nhiệm gìn giữ những giá trị văn hóa được trao truyền qua các thế hệ.
Thực tế cho thấy, tiềm năng di sản chỉ có thể trở thành nguồn lực phát triển khi được đặt trong một hệ sinh thái phù hợp, nơi cơ chế quản lý, nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia. Nếu thiếu hành lang pháp lý, cơ chế khuyến khích sáng tạo và phương thức tổ chức hiệu quả, nhiều giá trị văn hóa vẫn có nguy cơ dừng lại ở việc bảo tồn, trưng bày mà chưa hình thành được những sản phẩm có sức cạnh tranh và khả năng tạo sinh kế lâu dài.
PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn cho rằng, văn hóa chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi tạo ra giá trị kinh tế, làm phong phú đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng con người và củng cố sức mạnh quốc gia. Theo bà Hương, hoàn thiện thể chế có ý nghĩa quan trọng. Những điều chỉnh về pháp luật hướng tới không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải khơi thông các nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, tạo môi trường lành mạnh để các chủ thể văn hóa và doanh nghiệp cùng phát triển.
Cùng với đó, nguồn nhân lực sáng tạo là yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành giá trị thực tiễn. TS Nguyễn Tiến Thư, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa chỉ có thể thành công bền vững khi đặt trên nền tảng phát triển con người. Con người là chủ thể xác lập mục tiêu, xây dựng thể chế, sáng tạo giá trị, vận hành hệ thống, kiểm soát rủi ro và bảo đảm định hướng nhân văn.
Theo TS Nguyễn Tiến Thư, phát triển con người không đơn thuần là đầu tư mà còn là quá trình giải phóng, đánh thức và tổ chức các tiềm năng của con người. Nếu thiếu đội ngũ có năng lực, đạo đức, khát vọng, sức sáng tạo và khả năng thích ứng, cơ sở hạ tầng, tài nguyên hay thị trường cũng khó chuyển hóa thành sức mạnh bền vững.
Như vậy, khơi thông nguồn lực di sản không chỉ là câu chuyện đầu tư cơ sở vật chất hay mở rộng thị trường. Điều quan trọng là hình thành cơ chế để các giá trị văn hóa được sáng tạo, tổ chức và khai thác một cách có trách nhiệm. Trong đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển.

Di sản được bảo tồn bền vững
Nếu thể chế và nguồn nhân lực tạo điều kiện để công nghiệp văn hóa phát triển thì sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng quyết định tính bền vững trong khai thác di sản. Người dân không chỉ nắm giữ tri thức, kỹ năng và tập quán gắn với di sản mà còn trực tiếp duy trì môi trường văn hóa trong đời sống thường nhật. Vì vậy, việc phát huy giá trị di sản cần tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào quá trình tổ chức hoạt động, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và được hưởng lợi tương xứng.
NSND Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, nhìn nhận di sản là tài sản được các thế hệ trước trao truyền, thuộc về dân tộc và đất nước. Nếu chỉ bảo tồn mà không phát huy giá trị, di sản sẽ khó đóng góp đầy đủ cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc khai thác phải đi đôi với bảo tồn, giữ được bản chất, tinh thần và tính chân thực của di sản.
Theo ông Biên, bảo tồn bền vững phải dựa vào cộng đồng. Khi người dân được hưởng lợi, họ sẽ có thêm động lực tham gia gìn giữ di sản. Hội An là một ví dụ cho thấy người dân có thể đồng hành cùng chính quyền trong bảo tồn, đồng thời duy trì đời sống, hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ du lịch. Việc bảo tồn không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn mang lại giá trị tinh thần, xã hội; người dân có ý thức gìn giữ văn hóa cũng góp phần xây dựng môi trường du lịch thân thiện, hạn chế tình trạng thu phí quá mức và ngăn việc thương mại hóa làm biến đổi di sản.
“Chính sự gìn giữ của người dân mới là điều quan trọng. Chính quyền đóng vai trò tạo điều kiện và xây dựng hành lang pháp lý, nhưng người dân mới là lực lượng quyết định việc giữ gìn. Đồng thời trực tiếp bảo vệ di sản”, ông Vương Duy Biên nhấn mạnh.
Ở góc độ chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, GS.TS Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam cho rằng, việc coi văn hóa là một nguồn lực có giá trị kinh tế là bước đi tích cực về mặt chiến lược. Việc hoàn thiện thể chế, đặc biệt là khung pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa thực chất cũng nhằm bảo vệ quyền và kích thích tiềm năng sáng tạo của con người. Cùng với các chính sách phát huy vai trò của doanh nghiệp và khu vực tư nhân như lực lượng nòng cốt của công nghiệp văn hóa, ưu đãi tín dụng, thuế, hỗ trợ đổi mới sáng tạo… sẽ giúp thu hút nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
Từ thực tiễn đó, bài toán phát triển công nghiệp văn hóa còn nằm ở việc tổ chức hoạt động khai thác di sản sao cho lợi ích kinh tế không lấn át các giá trị văn hóa. Doanh nghiệp cần có điều kiện đầu tư, sáng tạo sản phẩm và phát triển thị trường; trong khi cộng đồng phải được tham gia thực chất, có cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập và tiếp tục duy trì các thực hành văn hóa truyền thống.
Phát triển công nghiệp văn hóa trên nền tảng di sản cần được nhìn nhận như một quá trình liên kết giữa bảo tồn, sáng tạo, kinh doanh và thụ hưởng. Nhà nước giữ vai trò hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý và điều kiện phát triển; doanh nghiệp góp vốn, công nghệ, năng lực tổ chức và kết nối thị trường; còn cộng đồng là chủ thể trực tiếp gìn giữ, thực hành và trao truyền các giá trị văn hóa.
Khi các mắt xích này được kết nối hài hòa, di sản không chỉ được bảo vệ mà còn có thể tạo thêm việc làm, sinh kế và nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn. Hiệu quả phát triển công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ nằm ở giá trị kinh tế được tạo ra, mà còn ở việc di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống, người dân có điều kiện sống tốt hơn và những giá trị văn hóa được trao truyền bền vững cho các thế hệ sau.
Biến di sản thành nguồn lực phát triển
PGS.TS Đỗ Văn Trụ, Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam cho rằng, để biến di sản thành tài sản, trước hết cần nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của di sản trong phát triển đất nước; đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ chế khuyến khích bảo tồn và chính sách đầu tư cụ thể cho văn hóa, di sản. Đặc biệt, phải phát huy vai trò của cộng đồng, bởi người dân không chỉ trực tiếp bảo vệ, gìn giữ mà còn thực hành, trao truyền các giá trị di sản qua nhiều thế hệ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đầu tư đúng hướng vào di sản có thể tạo ra nguồn thu, đóng góp trở lại cho nền kinh tế. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, xã hội và cộng đồng trong huy động nguồn lực, tổ chức bảo tồn và khai thác giá trị di sản. Đây là điều kiện quan trọng để vừa gìn giữ bền vững các giá trị văn hóa, vừa phát huy hiệu quả nguồn lực di sản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.