Làng nghề trước ngã rẽ thời cuộc - Bài 1: Cái khó “bó” làng nghề
Lực lượng kế cận ngày một thưa vắng, sản xuất nhỏ lẻ, ô nhiễm môi trường, thiếu mặt bằng, thị trường tiêu thụ bấp bênh, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn... là những thách thức chung nhiều làng nghề đang phải đối mặt.

Nỗi lo thiếu người nối nghiệp
Đến nhiều làng nghề ở các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên, chúng tôi vẫn gặp những người thợ miệt mài đục đá, chạm bạc, quay tơ, dệt lụa. Nhưng phía sau nhịp lao động ấy là không ít những nỗi niềm, trăn trở. Trong xưởng chạm bạc ở làng nghề chạm bạc Đồng Xâm (xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên), nghệ nhân Đinh Quang Thắng tự hào kể về lịch sử gần 600 năm của làng. Song khi nói đến hiện tại, ông không giấu được nỗi buồn. Theo ông, lớp trẻ ngày nay ở làng rất ít người theo nghề chạm bạc bởi công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, vất vả, trong khi thu nhập không còn hấp dẫn. Phần lớn chọn đi làm xa hoặc vào các nhà máy, khu công nghiệp để có việc làm ổn định. Ngay con trai ông cũng không nối nghiệp cha. “Ngày trước, mười nhà thì chín nhà đến trưa vẫn râm ran tiếng búa, tiếng chạm. Bây giờ không còn không khí ấy nữa”, ông Thắng chia sẻ. Theo UBND xã Trà Giang, toàn vùng làng nghề Đồng Xâm hiện chỉ còn khoảng 150 tổ sản xuất với khoảng 4.000 lao động, chủ yếu là người lớn tuổi, giảm đáng kể so với trước.
Tại làng nghề ươm tơ dệt lụa Cổ Chất (xã Ninh Giang, tỉnh Ninh Bình) chúng tôi được người làng cho biết những năm trước đây, khi còn hưng thịnh, làng có tới hơn 700 hộ, chiếm khoảng 90% số hộ trong làng làm nghề. Nhưng hiện tại, cả làng chỉ còn khoảng 30 hộ duy trì nghề này, chủ yếu là phụ nữ trung niên hoặc người già. Tương tự, ở làng nghề sơn mài Cát Đằng (xã Vạn Thắng, tỉnh Ninh Bình), chúng tôi cũng rất ít gặp những lao động trẻ. Bà Bích, thợ sơn mài ở Cát Đằng chia sẻ, vợ chồng bà có hai con nhưng con gái đang làm cho doanh nghiệp nước ngoài vì “thu nhập cao hơn hẳn nghề của mẹ”, con trai đang phụ giúp bố mẹ nhưng không yên tâm, cũng vì “lăn tăn” chuyện thu nhập, trong khi vợ chồng bà tuổi đã cao.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, toàn tỉnh hiện có 171 làng nghề, trong đó 54 làng nghề truyền thống, với hơn 80.000 lao động đang trực tiếp làm việc. Phần lớn lao động học nghề theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, tỷ lệ được đào tạo bài bản chỉ khoảng 20-25%; nhiều lao động còn thiếu kỹ năng về thiết kế sản phẩm, marketing, thương mại điện tử, ngoại ngữ và quản trị kinh doanh - những yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập. Thu nhập bình quân của lao động làng nghề ở tỉnh hiện đạt khoảng 7,1 triệu đồng/tháng, cao gần gấp đôi lao động thuần nông nhưng vẫn chưa đủ sức cạnh tranh với khu vực công nghiệp, do vậy không hấp dẫn lao động trẻ. Nguy cơ đứt gãy nghề truyền thống do vậy đang hiện hữu ở không ít làng nghề, nhất là với các nghề đòi hỏi kỹ thuật cao.
Nhiều rào cản phát triển
Không chỉ thiếu nhân lực kế cận, nhiều làng nghề còn đang gặp phải nhiều rào cản phát triển khác, thiếu hạ tầng tập trung là một ví dụ. Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình nêu một thực tế, nhiều cơ sở sản xuất ở các làng nghề trong tỉnh vẫn đang nằm xen kẽ trong khu dân cư, hình thành từ nhiều thế hệ trước; chưa có khu sản xuất riêng, thiếu hệ thống giao thông, điện, nước, kho bãi và xử lý chất thải đồng bộ. Tìm hiểu thực tế tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên (xã Nam Ninh, tỉnh Ninh Bình) chúng tôi ghi nhận hoạt động tái chế của các hộ dân diễn ra ngay tại nơi ở. Đi cùng đó là áp lực ô nhiễm môi trường. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, các nghề tái chế nhựa, kim loại, chế biến nông sản, thực phẩm hay mộc mỹ nghệ ở tỉnh phát sinh lượng lớn nước thải, khí thải, bụi và chất thải rắn nhưng nhiều nơi chưa có hệ thống xử lý đáp ứng yêu cầu. Ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân mà còn làm giảm sức hấp dẫn của làng nghề đối với du lịch, đồng thời trở thành rào cản khi sản phẩm muốn tiếp cận các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn xanh.
Khó khăn khác, theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, một số vùng nguyên liệu truyền thống ở tỉnh như cói, bèo, tre nứa… bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đô thị hóa, sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường. Bà Nguyễn Thị Yến, người gắn bó nhiều năm với nghề ươm tơ ở làng Cổ Chất (xã Ninh Giang, tỉnh Ninh Bình) cho biết trước đây bãi sông Ninh Cơ quê bà bạt ngàn màu xanh của nương dâu. Những năm qua, người trồng dâu quê bà bỏ nghề chọn sinh kế mới. Không còn vùng dâu nên các hộ sản xuất trong làng phải mua kén từ nhiều tỉnh khác, khiến chi phí tăng cao, hoạt động sản xuất gặp khó khăn, là một trong những nguyên nhân khiến làng nghề bị mai một.
Khó khăn chung của nhiều làng nghề truyền thống ở Hưng Yên, Ninh Bình chúng tôi có dịp tìm hiểu là sản phẩm thủ công truyền thống đang chịu sức ép ngày càng lớn từ hàng công nghiệp quy mô lớn và hàng nhập khẩu giá rẻ. Nghệ nhân Tạ Văn Úy, làng nghề chạm bạc Đồng Xâm (xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên) cho biết, để chạm, chế được một bức trang đồng bằng phương pháp thủ công người thợ phải tỉ mẩn cả tháng trong khi các cơ sở sản xuất công nghiệp chỉ cần dập máy là xong, giá bán vì vậy rất rẻ, sản phẩm thủ công không thể cạnh tranh. “Thu nhập giảm khiến nhiều thợ giỏi ở Đồng Xâm bỏ nghề, chọn vào nhà máy làm công nhân, dẫn đến tình trạng mai một nghề như hiện nay”, ông Úy nêu thực tế. Một điểm nghẽn khác là sự liên kết giữa làng nghề với du lịch và công nghiệp văn hóa còn lỏng lẻo. Ở tỉnh Ninh Bình, mặc dù có rất nhiều làng nghề truyền thống nhưng tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy rất ít làng có không gian trình diễn, khu trải nghiệm, trung tâm giới thiệu sản phẩm. Trong khi đó, theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, cơ chế phối hợp giữa nghệ nhân, doanh nghiệp và đơn vị lữ hành ở nhiều làng nghề trong tỉnh chưa hiệu quả. Do vậy, phần lớn các làng nghề vẫn chỉ dừng ở việc sản xuất, chưa khai thác được giá trị từ các dịch vụ văn hóa, du lịch.