Làng nghề trước ngã rẽ thời cuộc - Bài cuối: Phá vỡ rào cản, tận dụng cơ hội để phát triển
Dù gặp không ít rào cản, khó khăn, thách thức nhưng thực tế cũng cho thấy, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, không gian của các địa phương được mở rộng, khung chính sách quốc gia ủng hộ, khuyến khích, ngành du lịch tăng trưởng mạnh, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, xu hướng tiêu dùng ưu tiên sản phẩm thủ công… nhiều làng nghề cũng đang có cơ hội để phát triển.
Nhiều cơ hội mới cho làng nghề
Theo ông Nguyễn Sinh Tiến - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, hiện nay khung chính sách quốc gia đang tạo những điều kiện thuận lợi cho các làng nghề phát triển. Cụ thể, các chương trình lớn như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030, Chiến lược phát triển ngành nghề nông thôn, Chiến lược công nghiệp văn hóa Việt Nam, Đề án chuyển đổi số ngành nông nghiệp… đều nhấn mạnh vai trò của nghề truyền thống, kinh tế nông thôn và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương huy động nguồn lực và tích hợp chính sách để phát triển kinh tế nông thôn, trong đó có các làng nghề.
Bên cạnh đó, sau khi thực hiện chủ trương hợp nhất đơn vị hành chính, quy mô diện tích, dân số của các địa phương đều được mở rộng, nâng lên, giúp các địa phương có không gian phát triển rộng lớn hơn. Ở các tỉnh như Ninh Bình, Hưng Yên, với diện tích rộng, dân số đông, nhiều vùng nguyên liệu, đặc biệt có mạng lưới làng nghề dày đặc là điều kiện thuận lợi để địa phương hình thành các vùng chuyên canh nghề - cụm nghề - tuyến du lịch làng nghề liên hoàn.
Đặc biệt, hiện nay ngành du lịch cả nước đang tăng trưởng mạnh, trở thành động lực tiêu thụ sản phẩm làng nghề. Trong khi đó, nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đang sở hữu những làng nghề nổi tiếng, tạo dựng tên tuổi đã hàng trăm năm, mỗi làng nghề lại mang trong mình một câu chuyện lịch sử, một kỹ nghệ riêng và một bản sắc không trộn lẫn. Đơn cử, sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình đang hội tụ hàng trăm làng nghề, làng nghề truyền thống, trải dài từ vùng núi đá vôi Hoa Lư, vùng đồng bằng đến vùng ven biển rộng lớn, với những làng nghề nhiều năm tuổi như đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, cói Kim Sơn, gốm Bồ Bát, đúc đồng Tống Xá, đồ gỗ La Xuyên, sơn mài Cát Đằng, ươm tơ Cổ Chất, trống Đọi Tam, lụa Nha Xá, cây cảnh Vị Khê…Tỉnh Hưng Yên mới cũng sở hữu hệ thống làng nghề đặc sắc như chạm bạc Đồng Xâm, dệt đũi Nam Cao, mây tre đan, chế biến nông sản, cùng nhiều nghề thủ công truyền thống khác.

Theo ông Bùi Văn Mạnh - Giám đốc Sở Du lịch Ninh Bình, các làng nghề truyền thống, giàu giá trị lịch sử, văn hóa ở tỉnh chính là nguồn tài nguyên du lịch quý giá, mở ra cơ hội để tỉnh xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù “Mỗi làng nghề - một điểm đến”, qua đó tạo nhu cầu lớn về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, quà tặng, trải nghiệm nghề, nhất là trong xu thế người tiêu dùng đang ngày càng ưa chuộng sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thân thiện môi trường, sản phẩm gắn với bản sắc văn hóa.
Cùng với đó, chuyển đổi số cũng mở ra hướng phát triển mới cho các hộ dân, cơ sở sản xuất ở các làng nghề nếu biết ứng dụng thương mại điện tử, bán hàng trực tuyến, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, quảng bá trên các nền tảng số, qua đó mở rộng thị trường, giảm chi phí trung gian, tiếp cận với thị trường quốc tế.
Việc cần làm
Tuy nhiên, trước khi nắm bắt, biến những cơ hội trên thành nguồn lực để phát triển các làng nghề, các địa phương cần sớm nhận diện, từng bước phá vỡ được những rào cản, khắc phục những khó khăn, vướng mắc chung ở các làng nghề hiện nay. Ông Nguyễn Sinh Tiến cho rằng, những rào cản, khó khăn, vướng mắc ở nhiều làng nghề hiện nay không tồn tại riêng lẻ mà có mối liên hệ. Hạ tầng thiếu đồng bộ kéo theo ô nhiễm môi trường; ô nhiễm và thu nhập chưa đủ hấp dẫn khiến lao động trẻ rời bỏ nghề; thiếu lực lượng kế cận làm giảm khả năng đổi mới sáng tạo; vùng nguyên liệu thu hẹp làm tăng chi phí sản xuất trong khi áp lực cạnh tranh và yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe, rất cần những giải pháp đồng bộ để tháo gỡ. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp đồng bộ về quy hoạch hạ tầng, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu và tăng cường gắn kết với du lịch, công nghiệp văn hóa. Nếu không, nhiều làng nghề sẽ khó phát huy hết giá trị, thậm chí đứng trước nguy cơ mai một trong quá trình phát triển.
Theo hướng này, nhiều địa phương đang có những bước đi cụ thể nhằm khắc phục những khó khăn, khơi thông các rào cản để các làng nghề duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh mới.
Ông Đinh Văn Đàm - Chủ tịch UBND xã Trà Giang (tỉnh Hưng Yên) cho biết, thời gian qua chính quyền địa phương đã tổ chức các khóa học truyền nghề, dạy nghề chạm bạc cho lao động ở địa phương; Xây dựng khu trưng bày, quảng bá, giới thiệu nghề, sản phẩm của làng nghề chạm bạc Đồng Xâm. Chính quyền xã cũng đã đề nghị UBND tỉnh xem xét quy hoạch, triển khai xây dựng cụm công nghiệp làng nghề ở xã rộng 50ha, giúp các hộ dân, cơ sở sản xuất ở làng nghề có nơi sản xuất tập trung, thuận tiện, quy củ hơn.
Còn theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình Nguyễn Sinh Tiến, ở thời điểm hiện tại, Sở và các cơ quan liên quan của tỉnh đang phối hợp xây dựng Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tỉnh xác định phát triển làng nghề là một nhiệm vụ gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế nông thôn, bảo tồn di sản văn hóa và thúc đẩy du lịch trải nghiệm. Quan điểm xuyên suốt là phát huy giá trị của nghề truyền thống trên cơ sở kết hợp giữa yếu tố lịch sử, văn hóa với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu thị trường.
Tỉnh đặt ra nhiều nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn các nghề truyền thống có giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu; Tôn vinh nghệ nhân, người có công truyền dạy nghề; Hỗ trợ đào tạo, truyền nghề cho thế hệ trẻ; Khuyến khích, tạo điều kiện để các làng nghề đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường; Phát triển làng nghề với chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); Xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại và ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất, kinh doanh; Chú trọng quy hoạch không gian sản xuất phù hợp, khuyến khích ứng dụng công nghệ sạch, xử lý chất thải, gắn phát triển nghề với bảo vệ môi trường...
Đặc biệt là phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch với các nhiệm vụ cụ thể như xây dựng các điểm, tuyến du lịch làng nghề, phát triển không gian trải nghiệm nghề; kết nối nghệ nhân, cơ sở sản xuất với doanh nghiệp lữ hành, từng bước hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng dựa trên giá trị nghề truyền thống.