Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Lao động tự do ngoài trời: Nhiều áp lực nhưng vẫn thiếu “tấm đệm” an sinh

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Lao động tự do ngoài trời: Nhiều áp lực nhưng vẫn thiếu “tấm đệm” an sinh

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Tại các đô thị Việt Nam, lao động tự do làm việc ngoài trời hiện diện trong hầu hết các hoạt động kinh tế, dịch vụ thiết yếu, từ bán hàng rong, bán vé số, lái xe ôm, giao hàng, bốc vác, vận chuyển đến xây dựng. Họ góp phần duy trì sự vận hành của đô thị, nhưng lại là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu.

Thống kê cho thấy, hiện cả nước chỉ có khoảng 0,2% lao động phi chính thức có bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ảnh: L.H.
Thống kê cho thấy, hiện cả nước chỉ có khoảng 0,2% lao động phi chính thức có bảo hiểm xã hội bắt buộc. Ảnh: L.H.

Thu nhập thấp, rủi ro sức khỏe cao

PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên - Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam cho biết, ước tính Việt Nam hiện có khoảng 33 triệu lao động phi chính thức, chiếm hơn 50% tổng số người lao động. Đây là lực lượng lớn, gồm nhiều nhóm nghề như bán hàng rong, xe ôm, giao hàng, xây dựng, vệ sinh môi trường, thu gom phế liệu, bốc vác, lao động nông nghiệp và ngư nghiệp. Một bộ phận trong số này thường xuyên phải làm việc ngoài trời, trực tiếp chịu tác động của nắng nóng, mưa bão, ngập lụt, ô nhiễm và những biến động ngày càng khó lường của thời tiết.

Những con số từ nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe của một số nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời tại các đô thị lớn ở Việt Nam” do Tổng Hội Y học Việt Nam chủ trì, phối hợp với Viện Phát triển Sức khỏe cộng đồng Ánh sáng - LIGHT và Viện Y học ứng dụng Việt Nam - VIAM thực hiện từ tháng 4/2024 đến tháng 8/2026 tại Hà Nội, Đà Nẵng, TPHCM và Cần Thơ cho thấy, trong vòng 12 tháng tính từ thời điểm khảo sát, có 95,4% người lao động tiếp xúc với nắng nóng; 71% người tiếp xúc với mưa lớn; 38,7% trải qua ngập lụt lớn tại nơi cư trú hoặc làm việc; 38,7% tiếp xúc với bão hoặc giông có sức gió từ cấp 8 trở lên.

Đáng chú ý, phơi nhiễm thường không xảy ra riêng lẻ, khi có đến 55,6% người lao động cho biết thường xuyên tiếp xúc đồng thời với từ 6 - 10 yếu tố nguy cơ; 29,1% tiếp xúc đồng thời với 11 - 15 yếu tố và 1,8% tiếp xúc với trên 15 yếu tố. Chỉ 13,6% người lao động cho biết tiếp xúc với từ 1 - 5 yếu tố nguy cơ. Người lao động làm việc trung bình 8,7 giờ/ngày, 6,36 ngày/tuần, tương đương 55,3 giờ/tuần. Vì vậy, đối với họ, thời gian làm việc dài cũng đồng nghĩa với thời gian phơi nhiễm dài hơn.

Tăng khả năng tiếp cận chính sách an sinh xã hội

Những con số từ nghiên cứu cho thấy biến đổi khí hậu không còn là câu chuyện của môi trường. Với những người phải mưu sinh ngoài trời, tác động có thể kéo dài từ phơi nhiễm khí hậu đến sức khỏe, khả năng làm việc, thu nhập và sinh kế, cuối cùng làm suy giảm chính khả năng thích ứng của họ.

TS Trương Hồng Sơn - Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam, thành viên Ban quản lý nghiên cứu cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện chưa thu hút được lao động tự do là quyền lợi còn hạn chế so với BHXH bắt buộc. Trong khi BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ về hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản và bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, BHXH tự nguyện hiện chủ yếu tập trung vào các chế độ thai sản, hưu trí và tử tuất, chưa có chế độ ốm đau.

Theo ông Sơn, với nhóm lao động có thu nhập không ổn định, mức đóng bằng 22% mức thu nhập tháng cũng là một yếu tố khiến họ phải cân nhắc. Khi quyền lợi chưa tương xứng với khả năng đóng góp, BHXH tự nguyện khó trở thành một “tấm đệm” đủ mạnh để người lao động dựa vào khi ốm đau, gặp thiên tai hoặc buộc phải tạm dừng công việc.

Từ các dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu cho rằng cần nhận diện rõ lao động tự do làm việc ngoài trời là một nhóm dễ bị tổn thương trong các chiến lược, kế hoạch và chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, cần tăng khả năng tiếp cận BHXH, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế dự phòng cho lao động tự do. Để làm được điều này, trước mắt, cần có giải pháp hỗ trợ lao động có thu nhập thấp tham gia và duy trì bảo hiểm y tế, đồng thời tăng khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế dự phòng. Với BHXH tự nguyện, cần tiếp tục đánh giá mức đóng, phương thức đóng và phạm vi quyền lợi để phù hợp hơn với đặc điểm thu nhập không ổn định của lao động phi chính thức.

Theo TS.BS Nguyễn Thu Giang - Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện LIGHT, Đại diện Ban quản lý nghiên cứu nhận định: Cần chuyển từ cách tiếp cận giải quyết vấn đề đơn lẻ sang cách tiếp cận tích hợp giao điểm giữa biến đổi khí hậu, y tế, an toàn vệ sinh lao động và an sinh xã hội.

Một giải pháp được đề xuất là thí điểm “Trạm y tế thích ứng biến đổi khí hậu và thân thiện với lao động tự do ngoài trời”, cung cấp truyền thông, sơ cứu, tư vấn, khám lưu động, kết nối bảo hiểm y tế, BHXH và chuyển tuyến.

TS.BS Trương Hồng Sơn nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện dữ liệu. Hiện còn thiếu dữ liệu toàn diện về lao động phi chính thức, dẫn tới khó định lượng nguy cơ, khó thiết kế can thiệp và khó giám sát tác động của chính sách.

Lê Bảo