Mở rộng quyền ký kết thỏa thuận quốc tế ở cấp xã
Đại biểu Quốc hội cho rằng, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định đối ngoại là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên bên cạnh quốc phòng an ninh. Do đó, việc sửa Luật Thỏa thuận quốc tế là rất cần thiết để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đẩy mạnh được các hoạt động hợp tác quốc tế trong tương lai, nhất là ở các cấp địa phương.
Ngày 20/10, Quốc hội thảo luận ở Tổ về: Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi); Dự án Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội; Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi). Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tham dự phiên thảo luận tại Tổ 12 (gồm các Đoàn: Phú Thọ, Cà Mau).

Phát biểu tại phiên họp, liên quan đến dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu Quốc hội Thái Quỳnh Mai Dung (Đoàn Phú Thọ), Ủy viên là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho biết, sửa đổi dự án Luật Thỏa thuận quốc tế để đáp ứng các yêu cầu trong tình hình mới, đặc biệt sau khi thực hiện tổ chức sắp xếp lại từ Trung ương đến địa phương. Nhất là, Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định đối ngoại là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên bên cạnh quốc phòng an ninh. Do đó, việc sửa Luật Thỏa thuận quốc tế là rất cần thiết để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế trong tương lai, nhất là ở các cấp địa phương.
Qua đi khảo sát ở các địa phương, bà Dung chia sẻ có một nội dung nổi lên được rất nhiều các địa phương quan tâm, đó là thẩm quyền ký kết. Ban đầu khi Chính phủ trình, Bộ Ngoại giao soạn thảo chỉ cho phép là các xã, phường ở khu vực biên giới được quyền ký kết thỏa thuận quốc tế. Thế nhưng trong quá trình đi khảo sát, một số địa phương cho rằng cần phải mở rộng. Theo đó, gồm cả những đối tượng là các xã, phường ở trong chứ không chỉ ở mỗi khu vực biên giới.

Tuy nhiên, theo bà Dung, vấn đề này đang đặt ra nhiều vấn đề. Đối với những tỉnh có nguồn lực tương đối dồi dào có thể đáp ứng được những nhu cầu về ký kết các thỏa thuận quốc tế tốt hơn. Còn những tỉnh nguồn lực hạn chế sẽ rất khó khăn mặc dù có nhu cầu nhưng nguồn lực thực hiện bị hạn chế.
“Nhất là hiện nay chúng ta xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, bản thân các công chức cấp xã đã phải “gánh” rất nhiều nhiệm vụ. Bây giờ thêm công việc liên quan đến quốc tế, trong khi đây là vấn đề rất đặc thù, không phải đơn giản có thể thực hiện được”, bà Dung nêu vấn đề.
Ngoài ra, bà Dung cũng đánh giá, trong dự thảo luật lần này đưa vào rất nhiều điểm mới và phản ánh các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Ví dụ như liên quan đến ứng dụng về khoa học công nghệ; lần đầu tiên đẩy mạnh việc chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế; lần đầu tiên cho phép ký thỏa thuận quốc tế bằng hình thức điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế.

Bà Dung nói, các quy định này rất phù hợp với xu thế phát triển của Đảng và Nhà nước, sẽ giúp việc ký kết và quản lý việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế hiệu quả hơn. Tuy nhiên đây là một nội dung mới. Cho nên đề nghị trong dự thảo luật phải tiếp cận thận trọng và từng bước. Bản thân trên thế giới cũng chưa có nhiều thực tiễn về vấn đề này. Cho nên chúng ta cũng phải cần thực hiện thí điểm, và phải giao cho Chính phủ trong quá trình triển khai có hướng dẫn cụ thể.
Bên cạnh đó, bà Dung chỉ rõ trong thời gian vừa qua, nhất là tại Kỳ họp này rất nhiều luật liên quan đến an ninh, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, xác thực điện tử sẽ được thông qua. Do vậy để đảm bảo thực hiện được việc ký kết, thực hiện, và giám sát việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế trên hình thức điện tử phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật.
Chưa kể, đòi hỏi đầu tư về công nghệ, nguồn lực cũng tương đối lớn. Đồng thời làm sao đảm bảo được tính bảo mật, an toàn thông tin, đảm bảo tính chia sẻ và sử dụng chung giữa các bộ ngành. Vì hiện nay ký thỏa thuận quốc tế sẽ được phân cấp ở các bộ ngành và cả các địa phương. “Bây giờ làm thế nào để có thể quản lý được thống nhất và chia sẻ dữ liệu cũng là một bài toán tương đối lớn”, bà Dung phân tích.

Liên quan đến việc cơ sở dữ liệu về cam kết quốc tế, bà Dung nhận thấy, hiện tại khoản 4 Điều 44 đã giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên theo khoản 3 và khoản 4 Điều 40 của Luật Giao dịch điện tử thì Chính phủ quy định việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia; Bộ, cơ quan ngang bộ quy định việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ ngành mình. Cơ sở dữ liệu về cam kết quốc tế, hay cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế đều không được liệt kê trong các danh sách cơ sở dữ liệu quốc gia theo Nghị định 278 năm 2025 của Chính phủ quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan của hệ thống chính trị.
Đối chiếu với các yêu cầu của cơ sở dữ liệu quốc gia theo Điều 5 của Nghị định 194 quy định chi tiết một số điều của Luật Giao dịch điện tử về cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối và chia sẻ dữ liệu, dữ liệu mở phục vụ giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước; so sánh với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác như: cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hay VNeID đang sử dụng thì cần xác định rõ khả năng có đáp ứng tiêu chí về cơ sở dữ liệu quốc gia hay không, cũng như mục đích, yêu cầu sử dụng, kinh phí.
Trong hồ sơ dự án luật, cơ quan trình và Bộ Ngoại giao cũng đang triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về theo dõi cam kết quốc tế, điều ước quốc tế, sắp tới là thỏa thuận quốc tế. Do vậy bà Dung đề nghị cơ quan chủ trì trình dự thảo luật cần có những đánh giá kỹ càng về nguồn lực và khả năng ứng dụng cho cơ sở dữ liệu quốc gia.
Nêu rõ ngân sách đầu tư công cho giai đoạn sắp tới Bộ Ngoại giao đề xuất hơn 4.000 tỷ, trong khi đó được phân bổ trong dự kiến tài chính được hơn 2.500 tỷ (tức là 63%), bà Dung đặt vấn đề: Số còn thiếu sẽ lấy từ nguồn nào? Do đó, Bộ Ngoại giao phải làm việc thêm với Bộ Tài chính và cần rà soát kỹ về khả năng thực hiện để đáp ứng được các quy định trong luật đề ra.
Theo Bí thư Tỉnh uỷ Phú Thọ Phạm Đại Dương, vừa qua chúng ta mới thông qua Luật Phát triển đô thị. Trong luật này đã phân quyền cho các đơn vị cấp tỉnh, xã, phường, khu kinh tế đặc biệt được ký các thỏa thuận. Thế nhưng trong Nghị định hướng dẫn lại không có khu thương mại tự do. “Khu thương mại tự do cũng là một chủ thể có thể ký kết được với các đối tác. Do đó, cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung thêm các khu thương mại tự do”, ông Dương kiến nghị.