“Mỏ vàng” tín chỉ carbon chờ khai mở
Giới chuyên gia nhận định, thị trường tín chỉ carbon trong nước được xem như “mỏ vàng” và được kỳ vọng sẽ trở thành nguồn thu mới cho chủ rừng, bao gồm các cộng đồng sống dựa vào rừng, doanh nghiệp, địa phương, trực tiếp góp phần bảo vệ môi trường.
Tín chỉ carbon là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2, hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Theo Nghị định 112, doanh nghiệp (DN) có thể bán tín chỉ carbon ra nước ngoài theo 3 cơ chế: Thỏa thuận song phương giữa hai nước, cơ chế tập trung dưới sự giám sát của Liên hợp quốc (UNFCCC), hoặc tiêu chuẩn độc lập (như Verra, Gold Standard). Để tránh tình trạng bán quá mức, Chính phủ đặt tỷ lệ trần tín chỉ được phép bán với hai mức 50% và 90%. Với các DN phát thải vượt hạn ngạch cho phép phải mua thêm hạn ngạch phát thải hoặc tín chỉ carbon để bù đắp phần phát thải vượt mức.
Với tỷ lệ trần tín chỉ được đặt ra, thì các dự án trạm sạc, xe điện, canh tác lúa cần phải giảm thải ở mức 90%, còn các dự án trồng rừng ở mức 50%. Nói về mức tỷ lệ trần này, ông Nguyễn Tiến Hải - Giám đốc Kỹ thuật Công ty cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC) cho rằng, nhiều DN trong lĩnh vực bị áp trần 50% thấy “hụt hẫng” nên tăng giá tín chỉ để bù đắp chi phí. Ông Hải nêu rõ, lượng tín chỉ dôi dư có tiềm năng bán trên sàn giao dịch carbon trong nước. Việc DN ô nhiễm được mua 30% tín chỉ carbon bù trừ hạn ngạch sẽ tạo nguồn cầu cho lượng tín chỉ này. Đây là động lực lớn cho DN phát triển dự án carbon, khi họ có thể bán được trong nước lẫn quốc tế.
Ông Nguyễn Tuấn Quang - Quản lý giao dịch tín chỉ carbon của Vingroup cho biết, đơn vị này xây dựng hạ tầng dữ liệu ngay từ những dự án đầu tiên nhằm tạo nền tảng tham gia thị trường carbon. Hiện Vingroup đang xây dựng 2 dự án tín chỉ carbon. Trong đó, dự tính phát hành 1 triệu tín chỉ từ việc người dùng đổi xe máy xăng sang điện trong giai đoạn 2025-2029. Lượng giảm thải từ phát triển trạm sạc lớn hơn, có thể đạt tới 3,5 triệu tấn CO2 mỗi năm. 2 dự án này được xây dựng theo 2 tiêu chuẩn phổ biến là Verra và Gold Standard, đạt chuẩn giao dịch trên thị trường quốc tế…
Hay như Công ty TNHH Green Carbon Japan Vietnam đang hợp tác với bên thứ ba phát triển dự án tín chỉ. Ông Phan Tiến Thành, quản lý phát triển kinh doanh công ty cho biết, DN đang xây dựng dự án canh tác lúa giảm phát thải, áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) trên 80.000ha tại 15 tỉnh. Ước tính trong năm nay DN này sẽ thu về 500.000 tín chỉ carbon.
Ông Nguyễn Tuấn Quang - Phó cục trưởng Biến đổi Khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, nhiều DN hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, năng lượng, nông lâm nghiệp... bắt đầu quan tâm phát triển dự án tạo tín chỉ. Một số địa phương cũng chủ động tìm cơ hội khai thác tiềm năng giảm phát thải. “Việc chủ động tham gia thị trường carbon sẽ giúp Việt Nam và cộng đồng DN thực hiện tốt các cam kết giảm phát thải, đồng thời tận dụng được cơ hội phát triển mới trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh” – ông Quang nhấn mạnh.
Năm 2023 đánh dấu cột mốc Việt Nam lần đầu tiên chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải từ rừng của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ cho Ngân hàng Thế giới (WB) theo thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA), thu về 51,5 triệu USD.
Đây được xem là giao dịch giảm phát thải từ rừng đầu tiên của Việt Nam, mở ra cơ hội thương mại hóa giá trị hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, đồng thời tạo nguồn thu mới cho các địa phương tham gia bảo vệ, phát triển rừng. Ông Phạm Hồng Lượng - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin, Việt Nam tiếp tục chuyển nhượng bổ sung 1 triệu tấn CO₂ giảm phát thải cho WB, thu về 5 triệu USD. Như vậy, tổng lượng giảm phát thải đã được chuyển nhượng đạt 11,3 triệu tấn CO₂, với tổng giá trị 56,5 triệu USD, tương ứng đơn giá 5 USD/tấn CO₂. Những giao dịch đầu tiên này cho thấy giá trị giảm phát thải từ rừng của Việt Nam đã bước đầu được thương mại hóa, mở ra dư địa phát triển cho thị trường carbon trong nước và tăng khả năng tham gia thị trường carbon quốc tế.