Một số nội dung đổi mới trong lĩnh vực công chứng
Tới đây, người yêu cầu công chứng có thể xuất trình bản điện tử của giấy tờ để thay thế cho bản chính. Không yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng của bên nhận ủy quyền phải gửi 1 bản gốc của văn bản công chứng cho bên ủy quyền để giảm bớt thủ tục công chứng…
Bộ Tư pháp cho biết, đã triển khai phần mềm quản lý thông tin công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC). Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, cả nước chưa có cơ sở dữ liệu (CSDL) công chứng dùng chung thống nhất, chưa có phần mềm quản lý CSDL công chứng toàn quốc. Phần mềm quản lý thông tin công chứng viên và TCHNCC của Bộ Tư pháp và phần mềm CSDL công chứng ở địa phương chưa kết nối, liên thông với CSDL quốc gia về dân cư, các CSDL quốc gia khác, các CSDL bộ, ngành khác nên CSDL phân tán, không thống nhất, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý, giám sát hoạt động công chứng, khó khăn khi tra cứu thông tin ngăn chặn, tính trùng lặp, thiếu chuẩn dữ liệu và không đảm bảo an toàn thông tin.
Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, để CSDL công chứng được thông suốt cũng như giải quyết những bất cập trong thi hành Luật Công chứng thì việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng là cần thiết. Hiện Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, trong đó có sửa đổi quy định về giao dịch phải công chứng tại Điều 3 của Luật Công chứng.
Việc sửa đổi này được Bộ Tư pháp đưa ra 2 phương án, trong đó phương án 2 yêu cầu 8 nhóm giao dịch bắt buộc phải công chứng gồm: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất và quyền thuê theo hợp đồng thuê đất giữa các cá nhân hoặc giữa các cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hợp tác kinh doanh bằng quyền sử dụng đất; văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà ở và công trình xây dựng; Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất đồng ý đưa quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp; Hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp bằng nhà ở giữa các cá nhân hoặc giữa các cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản; Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng mà các bên tham gia giao dịch là các cá nhân, cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản hoặc giữa các tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản; Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất; văn bản thừa kế về nhà ở; Văn bản lựa chọn người giám hộ; văn bản thỏa thuận về việc mang thai hộ; Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ; Các loại giao dịch khác được luật quy định phải công chứng. Ngoài các giao dịch phải công chứng nêu trên, các giao dịch khác được công chứng tự nguyện, theo yêu cầu.
Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh cho biết, Bộ Tư pháp cũng hướng tới việc sửa đổi quy định về thủ tục công chứng theo hướng đơn giản hóa, thay thế thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng bằng việc khai thác, sử dụng thông tin tương ứng từ các CSDL. Tới đây, người yêu cầu công chứng có thể xuất trình bản điện tử của giấy tờ để thay thế cho bản chính. Không yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng của bên nhận ủy quyền phải gửi 1 bản gốc của văn bản công chứng cho bên ủy quyền để giảm bớt thủ tục công chứng trong trường hợp này.
Về CSDL công chứng tại Điều 66 của Luật Công chứng được sửa đổi, bổ sung theo hướng thay 2 CSDL công chứng (CSDL công chứng của Bộ Tư pháp và CSDL công chứng của địa phương) bằng 1 CSDL công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trường hợp đã có dữ liệu về các thông tin trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong các CSDL được cơ quan chủ quản CSDL công bố đủ điều kiện khai thác thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp các giấy tờ có chứa các thông tin đó; công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng khai thác, sử dụng thông tin đã có trong CSDL quốc gia và các CSDL đã được công bố khác để xem xét, giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng; không yêu cầu xuất trình bản chính các giấy tờ để đối chiếu theo quy định. Công chứng viên chỉ được yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong trường hợp không khai thác được thông tin trong ngày giải quyết yêu cầu công chứng hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác…