Nâng tầm giá trị nông sản từ khoa học công nghệ
Trong thời điểm thời tiết, khí hậu ngày càng diễn biến khó lường, ứng dụng khoa học công nghệ không còn đơn thuần là giải pháp nâng cao năng suất, mà trở thành điều kiện quan trọng để duy trì tính ổn định của sản xuất nông nghiệp, cũng như giúp người nông dân nâng tầm giá trị nông sản.
Tăng khoảng 30-35% giá trị so với sản xuất truyền thống
Số liệu thống kê của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, 9 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu đạt khoảng 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Đánh giá về số liệu kể trên, giới chuyên gia kinh tế chỉ ra, bài toán của ngành nông nghiệp không chỉ là mở thêm thị trường, mà còn phải thay đổi cách tổ chức sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Thị trường cần trở thành tín hiệu đầu vào của sản xuất, thay vì chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm sau khi đã sản xuất.
Khoa học công nghệ phải được đặt trực tiếp vào những bài toán của sản xuất và thị trường. Cụ thể, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, phát triển nông nghiệp hữu cơ và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp. Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP ở Hà Nội có thể mang lại thu nhập bình quân từ 450-500 triệu đồng/ha/năm khi đầu ra thuận lợi. Với những cây trồng có giá trị kinh tế cao như dâu tây, rau mầm được gieo trồng trong hệ thống nhà kính, nhà lưới, doanh thu có thể đạt khoảng 900 triệu đồng/ha/năm.
Hay tại tỉnh Phú Thọ, nhiều năm qua, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đã và đang tạo đà thúc đẩy phát triển nông nghiệp, cho ra những sản phẩm chất lượng tốt, tăng thu nhập cho nhân dân. Đến nay, toàn tỉnh có 648 vùng sản xuất cây trồng chủ lực với diện tích 79.000ha và hơn 7.600ha cấp mã số vùng trồng. Bên cạnh đó, 3.900ha được chứng nhận VietGAP, 153ha sản xuất theo GlobalGAP, 108ha sản xuất theo hướng hữu cơ.
Theo ông Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhiều doanh nghiệp (DN) đã đầu tư xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn, đưa các giống mới vào sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới, ứng dụng công nghệ hiện đại gắn với chế biến, bảo quản giúp gia tăng giá trị xuất khẩu. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới, thích nghi rộng được đưa vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đơn cử là cây lúa, hiện nay có hơn 80% là giống chất lượng cao giúp tăng giá trị xuất khẩu. Việc ứng dụng khoa học công nghệ đã mang lại hiệu quả tốt, tăng khoảng 30-35% giá trị so với sản xuất truyền thống.
Mở cửa thị trường
GS.TS Nguyễn Hữu Ánh, Phó Giám đốc Trường Đại học Kinh tế quốc dân cho hay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, yêu cầu chuyển dịch năng lượng, thì việc ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp là hết sức cần thiết.
Ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, một trong những điều kiện quyết định thành công của nông nghiệp hữu cơ và VietGAP là khả năng tiếp cận thị trường. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn mới chỉ giải quyết một phần yêu cầu. Nếu thiếu kênh phân phối, thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng thì lợi thế chất lượng khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Vì vậy, sản xuất cần gắn với chuỗi liên kết từ canh tác, sơ chế, bảo quản đến phân phối và tiêu thụ. Hợp tác xã tổ chức sản xuất, thống nhất quy trình, doanh nghiệp tham gia định hướng thị trường, phát triển thương hiệu và kết nối hệ thống phân phối.
Mặc dù vậy, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn do thị trường tiêu thụ sản phẩm hạn hẹp, không ổn định; một số nơi trình độ tiếp cận công nghệ của nông dân hạn chế; chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ở cơ sở chưa đồng bộ. Còn theo giới chuyên gia kinh tế, đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi kinh phí lớn cho cơ sở hạ tầng, thiết bị khiến người dân không đủ nguồn lực thực hiện. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ. Đơn cử như sản xuất theo hướng hữu cơ ở nước ta mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan nhưng quy mô mới chỉ đạt 174.000ha, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp.