Ngăn chặn tình trạng mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
Cùng với sự phát triển của hóa đơn điện tử, nhiều thủ đoạn gian lận mới gian lận hoá đơn cũng xuất hiện, trong đó nổi lên việc thành lập doanh nghiệp (DN) ma mua bán hoá đơn trái phép
Chiếm đoạt hàng nghìn tỷ đồng tiền ngân sách
Ngày 30/4 vừa qua Phòng Cảnh sát kinh tế (PC03), Công an TPHCM cho biết đã khởi tố, bắt tạm giam một số đối tượng để điều tra về hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
Theo điều tra ban đầu, qua công tác nắm tình hình, PC03 phát hiện Công ty Thái Hưng (địa bàn phường Hòa Hưng, quận 10 cũ) có dấu hiệu che giấu doanh thu, kê khai thuế giá trị gia tăng không đúng thực tế. Từ đây, lực lượng chức năng mở rộng xác minh các đơn vị có liên quan trong hoạt động xuất hóa đơn cho DN này.

Theo thông tin một số đối tượng khai, từ năm 2022 đến 2025 đã sử dụng 35 pháp nhân công ty “ma” để mua bán trái phép 16.700 hóa đơn giá trị gia tăng. Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi khống trên các hóa đơn này lên tới hơn 3.171 tỷ đồng, trong đó số tiền thuế giá trị gia tăng khoảng 356 tỷ đồng.
Không dừng lại ở đó, đối tượng còn sử dụng thêm 326 pháp nhân công ty “ma” khác cùng 28 tài khoản ngân hàng để luân chuyển dòng tiền, hợp thức hóa các giao dịch mua bán hóa đơn, với tổng giá trị giao dịch hơn 3.800 tỷ đồng.
Thời gian qua, tình trạng mua bán, sử dụng hóa đơn trái phép; gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) có chiều hướng gia tăng cả về số vụ việc, quy mô và tính chất phức tạp. Các đối tượng vi phạm đã lợi dụng những sơ hở trong cơ chế, chính sách, cũng như hạn chế trong công tác quản lý để thực hiện hành vi trục lợi bất chính.
Các hành vi vi phạm phổ biến có thể kể đến như: thành lập DN “ma” để mua bán hóa đơn khống; lợi dụng DN hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ để hợp thức hóa chứng từ; lập nhiều DN trung gian nhằm tạo lập các giao dịch giả…, hoặc lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT để chiếm đoạt tiền NSNN. Những hành vi này không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn làm méo mó môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
Ngành thuế cũng đã nhận diện bốn nhóm đối tượng có nguy cơ cao liên quan đến hành vi mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn.
Nhóm thứ nhất là các DN được thành lập nhằm mục đích mua bán hóa đơn. Đây là nhóm thường xuất hiện trong các vụ việc có tính chất tổ chức, với nhiều DN trung gian tham gia để tạo vỏ bọc cho các giao dịch không có thật.
Nhóm thứ hai là các DN có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế nhưng cố tình mua hóa đơn để nâng khống chi phí, giảm số thuế phải nộp hoặc phục vụ mục đích hoàn thuế.
Nhóm thứ ba là các cá nhân, hộ kinh doanh có phát sinh giao dịch thực tế nhưng không đủ điều kiện xuất hóa đơn hợp pháp. Để hợp thức hóa chứng từ, các đối tượng này tìm đến các nguồn cung cấp hóa đơn bất hợp pháp. Tình trạng này thường xuất hiện trong lĩnh vực vận tải, vật liệu xây dựng, khai thác đất, đá, cát, sỏi hoặc kinh doanh hàng nhập khẩu.
Nhóm thứ tư là các DN lợi dụng đặc thù hoạt động bán lẻ. Khi người tiêu dùng không yêu cầu lấy hóa đơn, phần doanh thu đó có thể bị biến thành nguồn hóa đơn đầu ra để bán cho các đơn vị có nhu cầu hợp thức hóa chi phí hoặc kê khai thuế.
Theo đánh giá của cơ quan thuế, những hành vi này không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh. Trong khi nhiều DN chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế, một số đơn vị lại tìm cách giảm chi phí hoặc hưởng lợi thông qua các chứng từ không phản ánh giao dịch thực tế.
Tăng chế tài phạt tiền, phạt tù đảm bảo tính răn đe
Ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra (Cục Thuế) cho biết mặc dù công tác phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan công an trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm mua bán hóa đơn, gian lận hoàn thuế GTGT tuy đã đạt được một số kết quả tích cực, song vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế.
Ông Trung cho biết trong thời gian tới, cơ quan Thuế và cơ quan công an cần tập trung triển khai đồng bộ, toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm theo hướng chủ động, hiện đại và gắn kết chặt chẽ hơn nữa.
Trong đó tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trên cơ sở quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan; xây dựng quy trình phối hợp thống nhất từ khâu tiếp nhận thông tin, phân tích, xác minh đến chuyển giao hồ sơ và tổ chức điều tra, xử lý, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.
Đồng thời, đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa hai ngành và với các cơ quan có liên quan như ngân hàng, hải quan, đăng ký kinh doanh, từng bước hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu liên thông, tích hợp, phục vụ hiệu quả công tác phân tích, nhận diện rủi ro và cảnh báo sớm các hành vi vi phạm.
Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề, DN có dấu hiệu rủi ro cao; chủ động rà soát, sàng lọc, lập danh sách các đối tượng nghi vấn để phối hợp xác minh, đấu tranh.
Cạnh đó, cơ quan Thuế cần nâng cao chất lượng công tác quản lý người nộp thuế, đặc biệt là quản lý hóa đơn điện tử, kiểm soát chặt chẽ việc phát hành, sử dụng hóa đơn; kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường để chuyển hồ sơ sang cơ quan công an.
Về phía cơ quan công an, cần đẩy mạnh công tác nắm tình hình, xác lập chuyên án, tập trung đấu tranh, triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức, quy mô lớn, hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, truy vết dòng tiền và thu hồi tài sản cho nhà nước.
Để góp phần làm giảm hành vi mua bán hóa đơn và gian lận trong hoàn thuế, theo Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn Thuế Trọng Tín, cần nâng chế tài phạt tiền đảm bảo tính răn đe và phù hợp với nguyên tắc xử lý vi phạm; đồng thời cần tăng cường chế tài xử lý hình sự về tội trốn thuế.