Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Cách chúng ta nghĩ về tương lai

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Cách chúng ta nghĩ về tương lai

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan nhiều năm gắn bó và tâm huyết với những vấn đề về nông nghiệp - nông dân. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông nói rằng đằng sau mùa vụ, những câu chuyện của đất, của nước, của đa dạng sinh học là tương lai của những thế hệ mai sau.

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan.
Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan.

PV: Thưa ông, từ một đất nước thiếu lương thực, chúng ta trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, theo ông đến giai đoạn hiện nay chúng ta cần làm gì để có một cuộc chuyển đổi rộng lớn hơn trong tư duy phát triển nông nghiệp?

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Đúng là nông nghiệp Việt Nam đã đi một chặng đường đáng tự hào. Nông sản của chúng ta từ hạt gạo, con tôm, trái cây, cà phê, đến hạt điều Việt Nam đã đi rất xa ra bên ngoài thế giới.

Có những lúc, nhìn một cánh đồng xanh, một vườn cây trĩu quả, một ao cá đang mùa thu hoạch, chúng ta dễ nghĩ rằng nông nghiệp trước hết là câu chuyện của năng suất, sản lượng và thu nhập. Nhưng càng đi sâu vào những vùng quê, càng trò chuyện với bà con nông dân, càng chứng kiến những biến động bất thường của thời tiết, thị trường, dịch bệnh, càng thấy phía sau một mùa vụ còn có câu chuyện của đất, của nước, của đa dạng sinh học, của sức khỏe cộng đồng và cả tương lai của những thế hệ mai sau.

Đôi khi, trong niềm vui về sản lượng và kim ngạch, chúng ta ít hỏi một câu khác: đất của chúng ta đang như thế nào? Có thời chúng ta nghĩ rằng thiên nhiên là một kho tài nguyên gần như vô tận. Cần bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Nhưng thiên nhiên cũng có giới hạn. Một nền nông nghiệp hướng tới bền vững cần một thay đổi rất lớn.

Tương lai của nông nghiệp không nằm ở việc bán thêm một tấn nông sản, mà nằm ở khả năng tạo thêm giá trị trên cùng một không gian sản xuất. Đôi khi, trong niềm vui về sản lượng và kim ngạch, chúng ta ít hỏi một câu khác: đất của chúng ta đang như thế nào? Một mảnh đất có thể cho năng suất cao trong năm nay nhưng nếu ngày càng chai cứng, nghèo hữu cơ, suy giảm vi sinh vật thì năng suất ấy có thực sự bền vững?

Một vườn cây có thể cho trái rất nhiều, nhưng nếu phải sử dụng ngày càng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới thì lợi nhuận thật sự còn bao nhiêu?

Một dòng sông cung cấp nước cho sản xuất, nhưng nếu chất thải từ chính sản xuất nông nghiệp quay trở lại dòng sông, chúng ta đang tạo ra giá trị hay đang chuyển chi phí từ hôm nay sang ngày mai?

Có thời chúng ta nghĩ rằng thiên nhiên là một kho tài nguyên gần như vô tận. Cần bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Đất thiếu chất thì bổ sung phân. Sâu bệnh thì dùng thuốc. Thiếu nước thì khoan sâu hơn.

Nhưng thiên nhiên cũng có giới hạn.

Ngày nay đâu đâu cũng nói về tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, nông nghiệp xanh, sản phẩm xanh. Nhưng màu xanh không nằm trên những tấm pa-nô. Màu xanh phải được nhìn thấy trong từng quy trình sản xuất. Và cuối cùng, người nông dân có thu nhập tốt hơn không?

Như vậy, thưa ông, thước đo thành công của nông nghiệp hiện đại là gì?

Lâu nay chúng ta thường đo thành công của nông nghiệp bằng số tấn trên hecta. Điều đó không sai nhưng chưa đủ. Một cánh đồng còn có thể tạo ra nhiều giá trị khác ngoài hạt lúa. Đó là môi trường. Là cảnh quan. Là đa dạng sinh học. Là văn hóa làng quê. Là ký ức về mùa nước nổi, về con cá đồng, cánh cò, bờ hoa. Là không gian trải nghiệm cho trẻ em thành thị. Là câu chuyện để xây dựng thương hiệu. Vậy tại sao chúng ta chỉ bán hạt gạo?

Tương lai của nông nghiệp không nằm ở việc bán thêm một tấn nông sản, mà nằm ở khả năng tạo thêm giá trị trên cùng một không gian sản xuất.

Khi nhìn nông nghiệp theo cách đó, chúng ta sẽ chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp bền vững. Khi ấy, mục tiêu không còn chỉ là nhiều nông sản hơn, mà là nhiều giá trị hơn.

Thưa ông, mô hình nông nghiệp nào phù hợp trong giai đoạn hiện nay để đạt được mục tiêu đó?

Có một nghịch lý. Chúng ta thường kỳ vọng người nông dân thực hiện những yêu cầu ngày càng phức tạp: truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, quản lý nước, ghi chép nhật ký, sử dụng vật tư đúng quy trình, bảo vệ môi trường…

Nhưng phần lớn nông dân vẫn sản xuất trên quy mô nhỏ. Một người nông dân đơn lẻ rất khó đáp ứng một thị trường ngày càng có nhiều tiêu chuẩn. Vì vậy, câu chuyện nông nghiệp sinh thái cuối cùng lại trở về với một từ quen thuộc: hợp tác.

Khi nông dân cùng nhau hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã, hội quán hay các hình thức liên kết cộng đồng, nhiều việc tưởng khó trở nên dễ hơn.

Cùng mua vật tư, cùng áp dụng quy trình, cùng quản lý mã số vùng trồng, cùng sử dụng thiết bị, cùng ghi chép dữ liệu, cùng thương lượng với doanh nghiệp, cùng xây dựng thương hiệu...

Và quan trọng hơn, cùng chịu trách nhiệm với cánh đồng của mình.

Nông nghiệp sinh thái vì vậy không chỉ cần vốn kinh tế mà cần cả vốn xã hội. Đó là niềm tin giữa người với người.

Nếu mỗi người đều nghĩ: “ruộng tôi tôi làm”, rất khó có một vùng nguyên liệu sinh thái. Nước không biết ranh giới thửa ruộng. Sâu bệnh cũng không biết ranh giới thửa ruộng. Môi trường càng không. Do đó, sinh thái trước hết phải là câu chuyện cộng đồng.

Tương lai của nông nghiệp không nằm ở việc bán thêm một tấn nông sản, mà nằm ở khả năng tạo thêm giá trị trên cùng một không gian sản xuất.
Tương lai của nông nghiệp không nằm ở việc bán thêm một tấn nông sản, mà nằm ở khả năng tạo thêm giá trị trên cùng một không gian sản xuất.

Trong liên kết 4 nhà chúng ta vẫn thường hay đề cập đến, thưa ông, vai trò của doanh nghiệp đứng ở đâu?

Doanh nghiệp cũng phải bước sang một vai trò mới. Liên kết nông nghiệp lâu nay đôi khi vẫn dừng ở quan hệ mua - bán. Doanh nghiệp cần nguyên liệu thì tìm nông dân. Nông dân có sản phẩm thì tìm doanh nghiệp. Mối quan hệ ấy thường chỉ mạnh khi giá thuận lợi, rồi trở nên mong manh khi thị trường biến động.

Nông nghiệp bền vững đòi hỏi một cấp độ hợp tác cao hơn. Doanh nghiệp không chỉ là người mua cuối vụ mà có thể trở thành người đồng hành từ đầu vụ. Và tiến xa hơn nữa là cùng xây dựng thương hiệu của vùng nguyên liệu.

Khi ấy, quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân chuyển từ giao dịch mùa vụ sang hợp tác dài hạn, từ mua bán sản phẩm sang đồng kiến tạo giá trị. Không ai trong chuỗi có thể bền vững nếu những mắt xích còn lại không bền vững.

Còn vai trò của khoa học công nghệ thì sao, thưa ông?

Khoa học phải bước ra cánh đồng. Nông nghiệp chắc chắn cần khoa học và công nghệ. Nhưng công nghệ không nhất thiết lúc nào cũng bắt đầu bằng những thiết bị đắt tiền. Điều quan trọng là khoa học ấy phải chạm được vào đất, vào cây và vào đời sống người nông dân. Có những công trình nghiên cứu rất hay nhưng nằm trong báo cáo. Có những sáng kiến rất tốt nhưng dừng lại ở mô hình trình diễn. Khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến cánh đồng đôi khi chỉ vài chục cây số nhưng về phương thức tổ chức lại rất xa.

Khuyến nông, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ cần cùng bước vào hệ sinh thái đó. Không phải mang một mô hình đến rồi hướng dẫn bà con làm theo, mà cùng bà con thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện.

Người nông dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận công nghệ. Người nông dân cũng là người có tri thức. Tri thức ấy được tích lũy qua nhiều mùa vụ, nhiều lần thành công lẫn thất bại. Khi tri thức khoa học gặp tri thức bản địa, có thể hình thành những giải pháp phù hợp hơn với từng vùng đất.

Cuối cùng, thưa ông, để nền nông nghiệp tiến xa hơn, chúng ta cần tư duy nông nghiệp như thế nào?

Công nghệ có thể mua, máy móc có thể nhập, quy trình có thể học... Nhưng tư duy thì không thể nhập khẩu.

Nông nghiệp phát triển không thể thành công chỉ bằng một đề án của Nhà nước, một dự án quốc tế hay một phong trào ngắn hạn. Nó cần sự thay đổi trong cách nghĩ của mỗi chủ thể. Từ việc cơ quan quản lý chuyển từ quản lý sản xuất sang kiến tạo hệ sinh thái. Doanh nghiệp chuyển từ mua nguyên liệu sang đồng hành với vùng nguyên liệu. Nhà khoa học chuyển từ chuyển giao kiến thức sang đồng kiến tạo giải pháp. Hợp tác xã chuyển từ cung cấp vài dịch vụ đầu vào sang tổ chức cả chuỗi giá trị.

Và người nông dân chuyển từ tư duy “mỗi nhà một ruộng” sang “cùng nhau gìn giữ một vùng đất”.

Chúng ta phải thay đổi những thói quen đã hình thành hàng chục năm. Nhưng cũng có thể bắt đầu rất dễ. Bắt đầu từ việc cúi xuống nhặt một nắm đất và tự hỏi: mảnh đất này sau mười năm nữa sẽ tốt hơn hay xấu đi?

Nhìn một dòng nước và tự hỏi: nước sau khi đi qua cánh đồng sẽ sạch hơn hay ô nhiễm hơn? Nhìn một người nông dân và tự hỏi: sau mỗi mùa vụ, họ chỉ có thêm sản lượng hay còn có thêm thu nhập, tri thức, niềm tin và sự an tâm? Và nhìn những đứa trẻ hôm nay để tự hỏi một câu xa hơn: Chúng ta sẽ để lại cho các em một nền nông nghiệp như thế nào?

Có lẽ, tương lai bền vững không bắt đầu ở một khái niệm thật lớn. Nó bắt đầu từ một mảnh đất được hồi sinh, một dòng nước được gìn giữ, một người nông dân biết hợp tác với những người nông dân khác, một doanh nghiệp biết chia sẻ, một nhà khoa học chịu bước xuống ruộng.

Rồi từ những thay đổi nhỏ ấy, nhiều cánh đồng sẽ thay đổi. Nhiều vùng quê sẽ thay đổi. Và nông nghiệp sẽ tạo ra những vùng quê đáng sống, những cộng đồng có trách nhiệm và một cách phát triển biết trân trọng giới hạn của tự nhiên.

Bởi suy cho cùng, chúng ta không thừa hưởng đất đai từ những người đi trước để khai thác cho đến cạn kiệt. Chúng ta chỉ đang mượn mảnh đất này của những thế hệ đi sau. Và câu hỏi còn lại là: Ngày trao lại, đất có màu mỡ hơn, dòng sông có trong hơn, làng quê có đáng sống hơn và người nông dân có hạnh phúc hơn hôm nay hay không?

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan sinh năm 1961, quê ở tỉnh Đồng Tháp. Ông tốt nghiệp Đại học Kiến trúc và là Thạc sĩ ngành kinh tế học.

Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khoá XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XI, XIII, XIV, XV.

Ông Lê Minh Hoan trưởng thành từ cán bộ địa phương trong ngành xây dựng, Phó Giám đốc, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đồng Tháp trước khi là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp; Bí thư Thành ủy Cao Lãnh; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp. 

Tháng 9/2020, ông được Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tháng 4/2021, tại kỳ họp 11, Quốc hội  khóa XIV, ông được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trước khi nghỉ hưu, ông là Phó Chủ tịch Quốc hội.

Cẩm Thúy