Nhiệt điện Phả Lại giữ “màu xanh” bên những tổ máy
Giữa áp lực bảo đảm nguồn điện và yêu cầu ngày càng cao về môi trường, Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại đang từng bước đầu tư, cải tạo công nghệ, nỗ lực gìn giữ màu xanh cho một trong những nhà máy nhiệt điện bền bỉ.

Hành trình gìn giữ màu xanh từ những tổ máy nhiều tuổi
Nói đến lĩnh vực Nhiệt điện ta liên tưởng ngay tới Nhiệt điện Phả Lại- đây là một trong số rất ít nhà máy được khởi công xây dựng từ những năm 1980. Sau 3 năm triển khai xây dựng, đến ngày 28/10/1983 tổ máy số 1 được hòa vào lưới điện quốc gia. Tiếp sau đó các tổ máy lần lượt được hòa vào lưới điện quốc gia, với tổng công suất thiết kế 1.040 MW.
Với một nhà máy điện có công suất lớn ra đời khi đất nước còn nhiều khó khăn, gian khổ, người dân sống dưới ánh đèn dầu nên điện đóng vai trò rất quan trọng, là nguồn sáng tương lai để thúc đẩy cho sản xuất công nghiệp, phát triển kinh tế; thắp sáng và phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân, giúp người dân rời xa ánh đèn dầu tối tăm.
Hơn bốn thập kỷ trôi qua kể từ ngày tổ máy đầu tiên của Dây chuyền 1 - Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại hòa vào lưới điện quốc gia, đến nay nơi đây vẫn đang âm thầm, bền bỉ thực hiện sứ mệnh sản xuất điện phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
Và cho thấy, Nhiệt điện Phả Lại không chỉ đóng vai trò rất quan trọng vào thực hiện sứ mệnh an ninh năng lượng mà còn đóng góp vào an sinh xã hội, tạo việc làm ổn định cho cả ngàn lao động với mức thu nhập hấp dẫn, đồng thời, hằng năm còn đóng góp vào ngân sách nhà nước cả trăm tỷ đồng - số tiền mà hàng năm công ty vẫn âm thầm thực hiện.
Dù thời gian trôi qua, mọi sự thay đổi, con người sinh ra và lớn lên cũng dần già nua, cỗ máy đã chạy hơn 40 cũng dần đi vào khó khăn bởi xuống cấp, hỏng hóc…
Như Dây chuyền 1 của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại các thiết bị được chế tạo từ nhiều thập kỷ trước cũng đang đứng trước thách thức khi các quy chuẩn môi trường ngày càng được siết chặt. Nhưng, thay vì lựa chọn cách vận hành để đảm bảo an ninh năng lượng, lãnh đạo Nhiệt điện Phả Lại đã cùng các cộng sự phối hợp để nghiên cứu đưa ra nhiều giải pháp, đầu tư thay thế các thiết bị không còn phù hợp để kéo dài tuổi thọ thiết bị và giảm thiểu tác động đến môi trường.
Đối với Dây chuyền 1, ngay từ thiết kế ban đầu, các lò hơi đã được lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện với hiệu suất lên tới 99,19%, giúp làm sạch bụi trước khi khí thải được đưa qua ống khói cao 200 mét ra môi trường. Đối với Dây chuyền 2, hiệu suất lọc bụi đạt 99,74%, đồng thời được trang bị thêm hệ thống khử SOx nhằm xử lý khí thải trước khi phát tán ra bên ngoài.
Điều đáng chú ý, dù Dây chuyền 1 được thiết kế trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường của nhiều thập kỷ trước chưa yêu cầu hệ thống khử lưu huỳnh (FGD) hay khử NOx, doanh nghiệp vẫn không ngừng cải tạo để nâng cao hiệu quả xử lý.
Riêng trong các năm 2024 và 2025, toàn bộ hệ thống lọc bụi tĩnh điện của Dây chuyền 1 đã được đại tu, sửa chữa. Bảy hệ thống lọc bụi đã hoàn thành công tác khôi phục thiết kế, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và giảm phát thải trong quá trình sản xuất điện.
Tại Dây chuyền 2, Công ty đang triển khai dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý SO₂ và NOx. Theo kế hoạch, Tổ máy số 5 dự kiến hoàn thành vào tháng 1/2027, Tổ máy số 6 hoàn thành vào tháng 4/2027, hướng tới đáp ứng các yêu cầu môi trường theo quy định hiện hành.

Bảo vệ môi trường bằng những việc làm cụ thể
Trên thực tế, đối với một nhà máy nhiệt điện than, việc bảo vệ môi trường không chỉ là câu chuyện của khí thải. Với nguồn nước thải nhiễm dầu cũng được công ty đã xử lý qua các công đoạn lắng tách dầu, lọc cơ khí và hấp phụ trước khi xả ra môi trường, trong đó hàm lượng dầu sau xử lý được tính toán không vượt quá 1 mg/l.
Song song với đó, nước thải sinh hoạt được Công ty xử lý bằng công nghệ sinh học với bể sục khí, bể lắng và hệ thống bùn hoạt tính trước khi xả ra môi trường theo quy chuẩn kỹ thuật. Đồng thời, Công ty cũng lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải, truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý môi trường.

Không dừng ở đó, các ống khói của cả hai dây chuyền 1 và 2 của Nhiệt điện Phả Lại đều được lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục theo dõi các chỉ tiêu như lưu lượng, bụi, SO₂, NOx, CO, nhiệt độ, áp suất... và kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý nhà nước. Việc giám sát môi trường cũng được thực hiện định kỳ đối với nước mặt, đất, không khí và khí thải theo đúng quy định.
Đối với tro bay, xỉ và thạch cao không chỉ là chất thải cần xử lý mà còn là nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng. Theo báo cáo, toàn bộ lượng tro bay, xỉ và thạch cao phát sinh đều được thu gom, lưu giữ và chuyển giao cho các đơn vị có chức năng xử lý, làm nguyên liệu sản xuất, vật liệu xây dựng. Cách làm này vừa góp phần giảm lượng chất thải tồn đọng tại bãi chứa, vừa hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn - xu hướng đang được nhiều ngành công nghiệp theo đuổi.

Song song với đó, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại đều được phân loại, lưu giữ trong các khu vực riêng biệt trước khi chuyển giao cho các đơn vị có chức năng xử lý. Công ty cũng thực hiện đầy đủ việc kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, lập báo cáo định kỳ và duy trì các kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định.
Những gì Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại đang triển khai cho thấy sự quyết tâm mạnh mẽ, đi vào đúng thực tế, trọng tâm cần giải quyết, điển hình từ đại tu hệ thống lọc bụi, đầu tư nâng cấp công nghệ xử lý khí thải, quan trắc môi trường tự động, tái sử dụng tro xỉ cho đến xây dựng lộ trình chuyển đổi nguồn điện trong tương lai, tất cả đều phản ánh một lựa chọn nhất quán: phát triển phải đi cùng trách nhiệm với môi trường.
Thực tế tại Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại cho thấy, việc duy trì vận hành an toàn các tổ máy đã hoạt động hơn 40 năm, đồng thời từng bước đầu tư, cải tạo công nghệ để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường là thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp. Những hạng mục nâng cấp hệ thống xử lý khí thải, đại tu thiết bị, tăng cường quan trắc môi trường và tái sử dụng tro, xỉ đang được triển khai cho thấy nỗ lực của doanh nghiệp trong việc vừa bảo đảm sản xuất điện, vừa đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.