Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Nhìn lại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Không nên chỉ sửa 'phần ngọn'

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nhìn lại kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Không nên chỉ sửa 'phần ngọn'

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sau những vấn đề phát sinh ở kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, một lần nữa câu chuyện có nên tiếp tục duy trì kỳ thi “2 trong 1” hay tách riêng kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học lại được đặt ra. Tuy nhiên, theo TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nếu chỉ quy mọi bất cập cho mô hình 1 kỳ thi là chưa đúng bản chất. Điều Việt Nam cần lúc này không phải thay đổi “chiếc vỏ” của kỳ thi, mà là một cuộc cải cách toàn diện về khảo thí, từ ra đề, quản trị, giám sát đến ứng dụng công nghệ và xây dựng đội ngũ khảo thí chuyên nghiệp.

PV: Sau một số tiêu cực bị phát hiện ở các địa phương cùng tranh cãi về đề thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhiều ý kiến đề xuất nên quay trở lại mô hình tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Quan điểm của ông như thế nào?

TS Hoàng Ngọc Vinh.
TS Hoàng Ngọc Vinh.

TS Hoàng Ngọc Vinh: Trước hết cần khẳng định rằng, mô hình kỳ thi “2 trong 1” không phải là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tiêu cực.

Nếu cho rằng chính mô hình này sinh ra gian lận thì phải có bằng chứng khoa học chứng minh. Thực tế, nếu đó là nguyên nhân cốt lõi thì tiêu cực phải diễn ra trên diện rộng, ở phần lớn các địa phương chứ không phải chỉ xuất hiện ở một số vụ việc cá biệt.

Chúng ta không thể chỉ vì xảy ra một vụ việc nghiêm trọng rồi lập tức kết luận phải bỏ mô hình hiện hành. Một quyết định chính sách lớn như tách thành hai kỳ thi cần được nghiên cứu đầy đủ, đánh giá tác động bằng dữ liệu chứ không thể dựa trên phản ứng trước một sự cố.

Việc thay đổi mô hình thi sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy, từ chi phí xã hội, áp lực đối với học sinh, gia đình đến công tác tổ chức của Nhà nước. Nếu không đánh giá đầy đủ mà chỉ thay đổi theo cảm tính thì rất dễ lặp lại vòng luẩn quẩn “gặp vấn đề ở đâu thì sửa ở đó”.

Nói cách khác, đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng và nguyên nhân.

Nhưng thực tế sau kỳ thi năm nay, nhiều ý kiến cho rằng mô hình một kỳ thi rất khó đáp ứng đồng thời hai mục tiêu là xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học?

Đó là hai câu chuyện khác nhau.

Đúng là xét về mặt lý luận, một kỳ thi vừa để công nhận tốt nghiệp, vừa để tuyển sinh đại học luôn đặt ra yêu cầu rất cao đối với kỹ thuật khảo thí. Đề thi phải đủ chuẩn để xác nhận học sinh hoàn thành chương trình phổ thông, nhưng cũng phải có khả năng phân hóa tốt nhằm phục vụ tuyển sinh.

Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không làm được.

Nếu chúng ta có một hệ thống khảo thí chuyên nghiệp, có ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa, được thử nghiệm đầy đủ, thì hoàn toàn có thể thiết kế một đề thi đáp ứng đồng thời hai mục tiêu.

Điều đáng nói là hiện nay chúng ta chưa có đầy đủ các điều kiện đó.

Nhiều năm qua, việc xây dựng đề thi vẫn mang tính thời vụ, phụ thuộc vào một nhóm chuyên gia được huy động theo từng mùa thi. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia, ngân hàng câu hỏi được xây dựng liên tục, trải qua quá trình thử nghiệm, phân tích thống kê rất kỹ trước khi đưa vào sử dụng.

Một câu hỏi phải biết rõ mức độ khó, khả năng phân loại, độ tin cậy, nhóm đối tượng phù hợp... Khi đã có dữ liệu như vậy thì việc ghép thành nhiều đề thi tương đương sẽ trở nên khoa học hơn rất nhiều.

Nếu không có ngân hàng đề, không có dữ liệu thử nghiệm thì rất khó để bảo đảm một đề thi vừa đánh giá được chuẩn đầu ra phổ thông, vừa đủ khả năng phân loại nhóm học sinh có năng lực cao.

Nói cách khác, vấn đề nằm ở năng lực khảo thí chứ không phải bản thân mô hình một kỳ thi.

Nhìn lại hơn 20 năm cải cách thi cử, theo ông, Việt Nam đã đi qua khá nhiều mô hình khác nhau. Bài học lớn nhất là gì?

Nếu nhìn lại cả quá trình sẽ thấy chúng ta đã nhiều lần điều chỉnh mô hình.

Có giai đoạn học sinh thi tốt nghiệp rồi tiếp tục thi tuyển sinh đại học. Sau đó chuyển sang mô hình “ba chung”, rồi hợp nhất thành kỳ thi quốc gia, rồi tiếp tục điều chỉnh để kỳ thi chủ yếu phục vụ xét tốt nghiệp trong khi các trường đại học được mở rộng quyền tự chủ tuyển sinh.

Qua từng giai đoạn đều có những ưu điểm và hạn chế riêng.

Tách hai kỳ thi giúp mục tiêu rõ ràng hơn. Thi tốt nghiệp chỉ nhằm xác nhận học sinh đạt chuẩn phổ thông; còn tuyển sinh đại học tập trung vào phân loại theo yêu cầu của từng nhóm ngành đào tạo.

Nhưng nếu quay trở lại mô hình hai kỳ thi bắt buộc thì xã hội cũng sẽ phải trả giá. Học sinh phải ôn tập nhiều hơn, tham gia hai kỳ thi quốc gia, chi phí đi lại, ăn ở và luyện thi đều tăng. Những đối tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất vẫn là học sinh vùng sâu, vùng xa, gia đình khó khăn.

Nếu trao toàn bộ quyền tuyển sinh cho từng trường mà thiếu cơ chế phối hợp thì rất dễ quay trở lại tình trạng mỗi trường tổ chức một kỳ thi, học sinh phải thi nhiều nơi như trước đây.

Đó là điều chúng ta từng trải qua.

Cho nên, khi bàn đến việc tách hay nhập kỳ thi, điều quan trọng không phải là mô hình nào “hay” hơn về mặt lý thuyết, mà là mô hình nào phù hợp với điều kiện quản trị của Việt Nam ở từng giai đoạn phát triển.

Như vậy, theo ông, điều cần ưu tiên hiện nay không phải là thay đổi mô hình kỳ thi?

Chính xác. Theo tôi, điều cấp thiết nhất hiện nay là cải cách tận gốc hệ thống khảo thí.

Chúng ta đang nói rất nhiều đến việc tách hay nhập kỳ thi, nhưng lại ít bàn đến những vấn đề cốt lõi như đội ngũ ra đề, quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi, quản trị dữ liệu, giám sát kỳ thi hay chuẩn nghề nghiệp của những người làm công tác khảo thí.

Đây mới là những yếu tố quyết định chất lượng và độ tin cậy của một kỳ thi quốc gia.

Nếu những vấn đề này chưa được giải quyết thì dù tổ chức một kỳ thi hay hai kỳ thi cũng vẫn có nguy cơ phát sinh bất cập.

Vì vậy, thay vì chỉ thay đổi “chiếc vỏ” của kỳ thi, chúng ta cần tập trung hiện đại hóa toàn bộ hệ thống khảo thí. Khi nền tảng kỹ thuật và quản trị đủ tốt, việc lựa chọn mô hình một hay hai kỳ thi sẽ không còn là vấn đề quá lớn.

Theo ông, nếu nguyên nhân không nằm ở mô hình kỳ thi “2 trong 1”, vậy đâu mới là những “điểm nghẽn” lớn nhất của công tác khảo thí hiện nay?

Theo tôi, gốc rễ nằm ở ba vấn đề lớn.

Thứ nhất là kỹ thuật khảo thí, bao gồm việc xây dựng đề thi, ngân hàng câu hỏi, phương pháp đo lường và đánh giá.

Thứ hai là quản trị kỳ thi, từ quy chế, tổ chức thi, phân công nhân sự, giám sát cho đến xử lý dữ liệu sau khi thi.

Thứ ba là chưa ứng dụng công nghệ để quản trị kỳ thi trong các khâu làm bài thi trên máy tính, giám sát bằng công nghệ, ứng dụng Ai để phân tích, dự báo...

Trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn tổ chức khảo thí theo cách khá thủ công và mang tính thời vụ. Mỗi mùa thi lại huy động một nhóm chuyên gia ra đề, cán bộ coi thi, chấm thi, trong khi đây đáng lẽ phải là một lĩnh vực có tính chuyên nghiệp rất cao.

Nếu nhìn lại khoảng hơn 20 năm qua sẽ thấy, năm nào đề thi cũng có những tranh luận nhất định. Có năm bị phản ánh quá khó, có năm quá dễ, có năm phổ điểm bất thường, có năm khả năng phân hóa chưa đáp ứng yêu cầu tuyển sinh.

Điều đó cho thấy chúng ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống khảo thí đủ chuyên nghiệp và ổn định.

Muốn khắc phục tận gốc thì phải bắt đầu từ ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa.

Một ngân hàng đề đúng nghĩa không phải chỉ là tập hợp hàng nghìn câu hỏi, mà mỗi câu hỏi đều phải được thử nghiệm trên diện rộng, phân tích bằng thống kê để biết rõ độ khó, độ phân biệt, mức độ phù hợp với từng nhóm đối tượng yếu, trung bình, khá, giỏi.

Khi có dữ liệu đầy đủ, người làm đề thi có thể lựa chọn những câu hỏi tương đương để tạo nhiều mã đề khác nhau nhưng vẫn bảo đảm cùng một chuẩn đánh giá.

Nếu chưa làm được điều này thì rất khó nói đến một kỳ thi có chất lượng cao.

Thí sinh dự kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: Quang Vinh.
Thí sinh dự kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: Quang Vinh.

Ông nhiều lần nhấn mạnh đến việc phải chuyên nghiệp hóa đội ngũ khảo thí. Theo ông, điều này cần được thực hiện như thế nào?

Hiện nay chúng ta gần như chưa có một đội ngũ khảo thí chuyên nghiệp theo đúng nghĩa.

Làm khảo thí không chỉ là ra đề thi. Đó là cả một hệ thống gồm người xây dựng câu hỏi, thử nghiệm đề, phân tích dữ liệu, phản biện, tổ chức thi, quản trị kỳ thi, coi thi, chấm thi, xử lý kết quả...

Mỗi vị trí đều cần có chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn năng lực và trách nhiệm rất cụ thể.

Người quản trị kỳ thi cũng phải được đào tạo bài bản về nghiệp vụ khảo thí chứ không chỉ giỏi quản lý hành chính.

Tôi cho rằng cần quy định rõ từng vị trí làm công việc gì, quyền hạn đến đâu, trách nhiệm thế nào. Khi có sai phạm thì phải xác định được trách nhiệm của từng cá nhân, thay vì quy trách nhiệm chung chung như hiện nay.

Đồng thời, Việt Nam cũng cần từng bước hình thành các tổ chức khảo thí chuyên nghiệp, hoạt động thường xuyên chứ không chỉ tập trung vào vài tháng mùa thi.

Đó mới là nền tảng để nâng chất lượng các kỳ thi quốc gia trong dài hạn.

Một vấn đề được dư luận đặc biệt quan tâm sau kỳ thi năm nay là công tác phát hiện và xử lý dấu hiệu bất thường. Theo ông, cần thay đổi cách giám sát như thế nào?

Theo tôi, khâu quản trị dữ liệu hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống.

Trước khi công bố điểm thi, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể tiến hành phân tích dữ liệu trên quy mô toàn quốc.

Chỉ cần sử dụng các công cụ thống kê, trí tuệ nhân tạo… cũng có thể phát hiện những phổ điểm bất thường, những cụm điểm bất thường, những chuỗi số báo danh có dấu hiệu khác thường hoặc mức độ tương đồng trong bài làm của thí sinh.

Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường thì phải tiến hành chấm thẩm định hoặc xác minh ngay trước khi công bố kết quả. Đó phải là một quy trình bắt buộc. Không nên chỉ đến khi dư luận phản ánh hoặc có đơn tố cáo mới bắt đầu rà soát. Đó cũng là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.

Quản trị hiện đại phải chủ động phát hiện rủi ro bằng dữ liệu, chứ không chỉ xử lý sau khi sự việc đã xảy ra. Và ngành giáo dục nên quán triệt chỉ đạo mới đây của Tổng Bí thư, Chủ tich nước Tô Lâm về quản trị phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số, mỗi chính sách hay các quy định luật pháp đều nên hướng đến khai thác cơ sở dữ liệu.

Nhiều ý kiến kỳ vọng thi trên máy tính sẽ giúp giảm tiêu cực và tăng tính linh hoạt trong tổ chức thi. Quan điểm của ông ra sao?

Thi trên máy tính chắc chắn là xu hướng.

Hình thức này có nhiều ưu điểm như tạo nhật ký truy vết toàn bộ quá trình làm bài, dễ tổ chức nhiều đợt thi, có thể sử dụng nhiều mã đề khác nhau và giảm đáng kể rủi ro lộ đề trên diện rộng.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng sẽ hỗ trợ rất tốt trong việc rà soát ngân hàng câu hỏi, phân tích dữ liệu, phát hiện những dấu hiệu bất thường.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên kỳ vọng rằng chỉ cần chuyển sang thi trên máy tính là sẽ xóa bỏ hoàn toàn tiêu cực. Bởi bất kỳ hệ thống nào cũng vẫn có yếu tố con người. Điều quan trọng là xây dựng được cơ chế kiểm soát để hạn chế tối đa khả năng can thiệp trái phép vào hệ thống.

Nói cách khác, công nghệ là công cụ hỗ trợ quản trị, chứ không thể thay thế hoàn toàn quản trị.

AI cũng vậy. AI chỉ giúp cảnh báo sớm những dấu hiệu bất thường để con người tiếp tục xác minh, điều tra và đưa ra kết luận cuối cùng.

Không nên tuyệt đối hóa vai trò của công nghệ.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất, năng lực. Theo ông, điều này đặt ra yêu cầu gì đối với đổi mới thi cử trong thời gian tới?

Đây là câu chuyện dài hạn. Nếu mục tiêu giáo dục là phát triển năng lực thì không một kỳ thi nào có thể đánh giá đầy đủ năng lực của học sinh. Điểm thi chỉ phản ánh một lát cắt của quá trình học tập. Trong khi năng lực của một con người còn được thể hiện qua quá trình học tập, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, các sản phẩm học tập, hoạt động trải nghiệm...

Vì vậy, trong khoảng 10-15 năm tới, Việt Nam cần xây dựng được cơ sở dữ liệu đánh giá học sinh đủ tin cậy, tích lũy trong suốt quá trình học từ phổ thông. Đó không chỉ là dữ liệu điểm số mà còn là toàn bộ quá trình phát triển của học sinh.

Khi dữ liệu đủ tin cậy, các trường đại học hoàn toàn có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin để tuyển sinh thay vì phụ thuộc quá lớn vào một kỳ thi duy nhất. Đó cũng là xu hướng của nhiều nền giáo dục phát triển.

Tuy nhiên, muốn làm được điều đó thì trước hết phải nâng cao độ tin cậy của hệ thống đánh giá trong nhà trường, ứng dụng dữ liệu lớn trong quản lý giáo dục và thay đổi tư duy đánh giá của giáo viên.

Đây là một quá trình lâu dài, không thể hoàn thành trong một vài năm.

Nếu phải đưa ra một thông điệp sau những tranh luận của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, ông muốn nhấn mạnh điều gì?

Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không nên chỉ sửa phần ngọn. Không thể cứ mỗi lần xảy ra một vụ việc lại bổ sung thêm vài quy định, thêm vài thủ tục hay thay đổi mô hình kỳ thi. Điều Việt Nam cần là một cuộc cải cách toàn diện về khảo thí.

Đó là hiện đại hóa công nghệ khảo thí; xây dựng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa; hình thành đội ngũ khảo thí chuyên nghiệp; tăng cường giám sát độc lập; quản trị dữ liệu trước khi công bố điểm và từng bước xây dựng hệ thống đánh giá năng lực học sinh theo quá trình.

Khi những nền tảng đó được hoàn thiện, câu chuyện là một kỳ thi hay hai kỳ thi sẽ không còn là vấn đề quyết định.

Chữa bệnh phải trị tận gốc, không thể tiếp tục vá víu. Nếu phần gốc không thay đổi thì mỗi mùa thi chúng ta lại loay hoay xử lý sự cố, trong khi những bất cập cốt lõi vẫn còn nguyên.

Trân trọng cảm ơn ông!

Lộ trình thi tốt nghiệp THPT trên máy tính

GS Huỳnh Văn Chương - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GDĐT) thông tin, ngay sau khi thử nghiệm thi trên máy tính năm 2026, Bộ đang triển khai một số việc cho lộ trình thí điểm 2027-2029, sau đó sẽ đánh giá. Việc triển khai đồng loạt sẽ diễn ra vào năm 2030.

Cụ thể, hiện Bộ đang tập trung xây dựng ngân hàng câu hỏi thi. Đó là công việc lớn nhất khi triển khai thi trên máy tính; ngoài ra xây dựng hệ thống phần mềm hỗ trợ cho kỳ thi trên máy tính, đặc biệt là quá trình bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật của đề thi. Cần khảo sát, đánh giá toàn bộ hiện trạng máy tính, cơ sở vật chất tại 34 tỉnh thành, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, những vùng khó khăn nhất.

Hiện Bộ đã thử nghiệm ở một số địa phương, trong đó có cả vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và miền Nam. Sau đó, đề án sẽ được báo cáo các cấp có thẩm quyền.

Thu Hương (thực hiện)