Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Những số phận bước ra từ nỗi đau da cam

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Những số phận bước ra từ nỗi đau da cam

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Những số phận bước ra từ nỗi đau da cam
Bà Trần Tố Nga và Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn. Ảnh: Hồng Phúc

Hơn 65 năm kể từ khi thảm họa chất độc da cam bắt đầu ở Việt Nam, nỗi đau chiến tranh vẫn chưa dừng lại khi tiếp tục ám ảnh nhiều thế hệ. Nhưng giữa những phận người mang di chứng khốc liệt ấy, vẫn có những con người chọn cách bước tiếp bằng nghị lực, biến mất mát thành động lực cống hiến. Những câu chuyện lay động lòng người, nhắc nhở về trách nhiệm sẻ chia và hành trình bền bỉ đi tìm công lý cho các nạn nhân da cam.

Hành trình nghị lực “nở hoa”

Là một nạn nhân da cam, đôi chân bị khuyết tật, phải di chuyển bằng hai đầu gối, thế nhưng ít ai nghĩ rằng cô giáo Phạm Thị Thu Thủy (SN 1997) đã phải bắt đầu cuộc đời bằng một hành trình đầy nghiệt ngã.

Ngay sau khi chào đời, cô đã bị bỏ rơi và lớn lên với đôi chân không lành lặn. Được các y, bác sĩ và điều dưỡng tại Làng Hòa Bình (TPHCM) cưu mang, Thủy coi nơi đây như mái nhà thứ hai của mình. Chính tình yêu thương ấy đã trở thành điểm tựa để cô gái nhỏ kiên trì theo đuổi con đường học tập, rồi tốt nghiệp Khoa Giáo dục đặc biệt tại Trường Đại học Sư phạm TPHCM và trở thành giáo viên dạy trẻ tự kỷ, trẻ khuyết tật.

Với cô giáo Thủy, mỗi học sinh là một thế giới riêng cần được lắng nghe và thấu hiểu. Điều khiến cô giáo trẻ hạnh phúc không chỉ là nhìn các em tiến bộ từng ngày mà còn bởi bản thân được tiếp tục trao đi những điều mình từng nhận. “Nghề giáo không chỉ là công việc mà còn là cách để trả ơn cuộc đời và truyền thêm niềm tin cho những đứa trẻ có hoàn cảnh giống mình” - cô Thủy chia sẻ.

Nếu câu chuyện của cô giáo Thu Thủy là hành trình vượt lên số phận bằng tri thức thì đối với anh Nguyễn Đức (người em trong cặp song sinh Việt - Đức nổi tiếng, là biểu tượng của kỳ tích y học Việt Nam) lại là tấm gương truyền cảm hứng vượt qua nỗi đau da cam. Sau ca phẫu thuật tách rời lịch sử năm 1988, cuộc đời Nguyễn Đức vẫn là chuỗi ngày điều trị với hơn 10 ca phẫu thuật lớn nhỏ. Thế nhưng, thay vì khép mình trong mặc cảm, anh chọn trở lại Làng Hòa Bình làm việc, chăm sóc những em nhỏ có hoàn cảnh giống mình. Không dừng lại ở đó, anh Nguyễn Đức còn trở thành cầu nối hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản. Hơn 50 lần sang Nhật Bản, anh kể câu chuyện của chính mình để truyền đi thông điệp về giá trị của hòa bình và trách nhiệm gìn giữ hòa bình.

Đối với bà Trần Tố Nga, người dành gần hai thập niên để theo đuổi hành trình đi tìm công lý cho nạn nhân da cam. Ở tuổi 85, người cựu phóng viên Thông tấn xã Giải phóng vẫn không ngừng có mặt trong các phiên tòa tại Pháp, tiếp tục cuộc chiến pháp lý nhằm yêu cầu các tập đoàn hóa chất từng sản xuất chất khai quang sử dụng trong chiến tranh Việt Nam phải chịu trách nhiệm.

Những năm 1966 - 1970, bà từng hoạt động tại các vùng bị rải chất độc hóa học nặng nề như Củ Chi, Bình Long hay dọc tuyến đường Trường Sơn. Chính quãng thời gian ấy khiến bản thân bà và các con mang di chứng dioxin. Nhưng điều thôi thúc bà đứng đơn kiện các công ty hóa chất không phải câu chuyện của riêng mình. “Tôi theo đuổi hành trình đi tìm công lý không phải cho riêng mình mà cho hàng triệu nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Còn đủ sức khỏe, tôi vẫn sẽ đi đến cùng” - bà Nga khẳng định.

Những minh chứng sống cho sự kiên cường

Trong giai đoạn 1961 - 1971, quân đội Mỹ đã thực hiện gần 20.000 phi vụ phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam, trong đó hơn 61% là chất độc da cam chứa dioxin. Đến nay, khoảng 4,8 triệu người Việt Nam được xác định bị phơi nhiễm; hàng triệu người vẫn đang phải sống chung với bệnh tật, dị tật bẩm sinh và những di chứng kéo dài qua nhiều thế hệ.

Riêng tại TPHCM, sau khi mở rộng địa giới hành chính, hiện có khoảng 25.000 người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin đang sinh sống. Tuy nhiên, Thiếu tướng, PGS.TS, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Hồng Sơn - Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin TPHCM cho biết, đến nay mới chỉ khoảng 10.000 người được xác nhận là hội viên, trong khi số nạn nhân thực tế cần được hỗ trợ lớn hơn rất nhiều. Khoảng cách này đặt ra áp lực không nhỏ đối với công tác chăm lo trong giai đoạn mới.

Phó Chủ tịch Hội nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam cũng trăn trở nhiều năm qua về dự án “Làng Cam”, là mô hình đã được đặt vấn đề từ hơn một thập niên nhưng vẫn chưa thể triển khai do vướng mắc về cơ chế phối hợp, thủ tục đầu tư và quy hoạch.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn, “Làng Cam” không đơn thuần là một công trình an sinh mà hướng đến xây dựng một môi trường sống toàn diện cho các nạn nhân; là nơi họ được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, có việc làm và từng bước hòa nhập cộng đồng bằng chính năng lực của mình.

Điều đặc biệt trong suy nghĩ của Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn là ông không muốn cộng đồng chỉ nhìn nạn nhân da cam bằng sự thương cảm. “Tôi luôn nghĩ rằng nạn nhân da cam/dioxin không chỉ là những người cần giúp đỡ. Họ còn là những minh chứng sống cho sự kiên cường, nghị lực và tinh thần vượt qua nghịch cảnh” - Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn chia sẻ.

Sau 65 năm kể từ ngày thảm họa da cam bắt đầu trên đất Việt Nam, điều còn ở lại không chỉ là những di chứng đau đớn hay những con số ám ảnh. Điều còn ở lại còn là ý chí không chịu khuất phục của những con người đã biến nỗi đau thành động lực để cống hiến, sẻ chia và bền bỉ đi tìm công lý. Và cũng từ những câu chuyện ấy, thông điệp về hòa bình, lòng nhân ái và trách nhiệm với các nạn nhân chiến tranh tiếp tục được lan tỏa, để không ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình hàn gắn những vết thương mà chiến tranh để lại.

Thành Luân