Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Nỗ lực giảm rác thải nhựa trong sản xuất nông nghiệp

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nỗ lực giảm rác thải nhựa trong sản xuất nông nghiệp

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Là một trong những ngành mũi nhọn của quốc gia, đóng góp quan trong đảm bảo an ninh lương thực, cũng như đảm bảo đời sống, phát triển kinh tế cho người dân, vậy nhưng những hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng gây ra những khó khăn, bất cập cho môi trường, cụ thể là chất thải nhựa.

Sản xuất càng phát triển, lượng rác thải càng lớn

Theo nhận định của giới chuyên gia môi trường, nhựa được sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp đang ở mức báo động tại Việt Nam. Theo tính toán, tại Việt Nam, riêng lượng rác thải nhựa từ bao bì thuốc bảo vệ thực vật lên tới khoảng 19.000 tấn/năm.

Đây là thách thức rất lớn đối với môi trường ở khu vực sản xuất nông nghiệp, khi các hạt vi nhựa có thể phát sinh trong quá trình rác thải nhựa phân hủy sau quá trình canh tác. Còn theo giới chuyên gia môi trường, rác thải nhựa nông nghiệp được hình thành từ phụ phẩm từ nông nghiệp và chất thải từ các vật tư sử dụng trong nông nghiệp, gồm nilon, vải bạt, lưới, dây nhựa, phao xốp, phao nhựa, vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), vỏ bao bì phân bón…

Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa thải ra môi trường, trong đó 0,28- 0,73 triệu tấn bị thải ra biển, nhưng chỉ 27% trong số này được tái chế, tận dụng bởi các cơ sở, doanh nghiệp (DN). Điều đáng nói, việc xử lý và tái chế rác thải nhựa còn nhiều hạn chế khi có đến 90% rác thải nhựa được xử lý theo cách chôn, lấp, đốt và chỉ có 10% còn lại là được tái chế.

Rác thải nhựa, nilon được dùng trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Minh Quân.
Rác thải nhựa, nilon được dùng trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Minh Quân.

Dẫn số liệu thống kê của Viện Môi trường nông nghiệp (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), PGS.TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường nông nghiệp thẳng thắn chia sẻ, sản xuất nông nghiệp càng phát triển, lượng rác thải càng lớn.

Về sự phát triển, cũng như tầm quan trọng của ngành nông nghiệp, ông Nguyễn Như Cường - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho hay, với kim ngạch xuất khẩu gần 70 tỷ USD mỗi năm, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mà cụ thể, một vài năm trở lại đây, khi mà các mô hình canh tác nông nghiệp trong nhà màng, thủy canh mở ra hướng sản xuất mang lại giá trị kinh tế cao, giảm thiểu sâu bệnh hại cây trồng và cho ra thị trường các sản phẩm sạch, chất lượng đồng đều.

Thế nhưng, đi kèm sẽ phát sinh khối lượng lớn nhựa từ ống dẫn nước PVC, HDPE, màng phủ PE… Và với các cây ngắn ngày thông thường thì lượng nhựa phát thải ra dao động từ gần 1 - 5 kg/ha/năm. Với cây lúa có sử dụng màng chống ẩm cho mạ thì phát thải thêm 83,3 kg/ha. Một số nơi sử dụng màng nilon chống chuột bao quanh ruộng, lượng nhựa phát thải cộng thêm 343,6 kg/ha.

Đặc biệt, đối với các loại cây rau hoa trồng trong nhà màng thâm canh cao, khối lượng màng nhựa bảo vệ có phát sinh thêm 1,2-1,3 tấn trên mỗi hecta, cộng thêm hơn 2 tấn ống nhựa. Hệ thống cây ăn quả và cây công nghiệp theo phương pháp truyền thống cũng phát thải dưới 9kg/ha, nhưng nếu ruộng được trang bị hệ thống ống nước tưới thì có thể phát sinh đến 640 kg/ha.

Trong trồng trọt, nguồn phát sinh nhựa đáng kể nữa đến từ bao bì phân bón, với lượng phát thải trung bình từ gần 1-6,5 kg/ha. Với chai lọ thuốc bảo vệ thực vật, hệ số còn lớn hơn do bất kể lượng thuốc chỉ có vài chục ml hay cả lít thì vẫn phải dùng nhựa nguyên sinh, chất lượng tốt để tránh thẩm thấu thuốc ra môi trường…

Kiểm soát rác thải nhựa bằng nông nghiệp tuần hoàn

Giới chuyên gia kinh tế cho rằng, trên thực tế, nhựa cũng có nhiều ưu điểm khi vận dụng trong sản xuất nông nghiệp hiện đại, công nghệ cao, nông nghiệp thông minh. Như nhà màng giúp hạn chế sâu bệnh và tác động của thời tiết, ống nhựa giúp tưới tiêu chính xác, máng nhựa dễ vệ sinh và góp phần phòng trừ dịch bệnh.

Tuy nhiên, việc sử dụng nhựa cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh phát sinh rác thải không cần thiết”, PGS.TS Mai Văn Trịnh nhấn mạnh. PGS.TS Mai Văn Trịnh cho rằng, mô hình nông nghiệp tuần hoàn là giải pháp bền vững nhất để kiểm soát rác thải nhựa. Mô hình này không chỉ giúp tăng hiệu quả sản xuất mà còn hạn chế phát thải khí nhà kính, nâng cao sức khỏe đất, giảm lượng bao bì phân bón và thuốc bảo vệ thực vật phát sinh.

Rác thải nhựa được người dân thu gom và phơi để tái sử dụng xã Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Minh Quân.
Rác thải nhựa được người dân thu gom và phơi để tái sử dụng xã Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Minh Quân.

PGS.TS Mai Văn Trịnh đề xuất, Nhà nước cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về việc giảm thiểu, thu gom, phân loại, xử lý và tái sử dụng chất thải nhựa trong nông nghiệp. Đồng thời, cần có những quy định chặt chẽ hơn về tỷ lệ sử dụng nhựa trong sản xuất, đặc biệt là hạn chế bao bì nhựa dùng một lần. Không những thế, việc triển khai các chính sách bảo vệ môi trường nói chung và giảm rác thải nhựa trong nông nghiệp nói riêng. Nhất là khi quy định về trách nhiệm của nhà sản xuất EPR đã có hiệu lực.

Bên cạnh đó, các loại vật liệu nhựa dễ phân hủy sinh học hoặc có thể tái sử dụng nhiều lần cũng nên được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi. Viện Môi trường Nông nghiệp hiện đang thực hiện một thí nghiệm dài hạn, theo dõi sự phân huỷ của các loại chất thải nhựa phổ biến như PE, PP, HDPE trong đất trồng để đánh giá mức độ phân hủy sau mỗi 5 năm. Đây cũng là cơ sở để xác định tác động của nhựa trong môi trường canh tác nông nghiệp, thúc đẩy triển khai các giải pháp giảm nhựa mạnh mẽ hơn.

Và trách nhiệm của nhà sản xuất

Theo giới chuyên gia môi trường, nếu chỉ phát triển sản xuất nông nghiệp tuần hoàn để kiểm soát, cũng như hạn chế rác thải nhựa, thì chưa đủ. Mà điều quan trọng không kém, đo là cần phải nhắm vào nhà sản xuất, nhà thiết kế sản phẩm, chuỗi cung ứng và hệ thống thu gom - tái chế, điểm mấu chốt nằm ở chính sách và mô hình kinh tế. Một trong những công cụ được nhắc tới nhiều là cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

Theo đó, EPR đặt trách nhiệm lên nhà sản xuất, nhập khẩu để chịu trách nhiệm về sản phẩm của họ từ khi sản xuất, cho tới khi thải bỏ và xử lý. Khi nhà sản xuất hiểu rằng nếu họ sử dụng vật liệu khó tái chế hoặc không chịu được vòng đời dài thì chi phí sẽ tăng và đó chính là tạo động lực thay đổi thiết kế, sử dụng nhựa đơn chất dễ tái chế, hoặc giảm nhựa dùng một lần.

Thực tế cho thấy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn sẽ hạn chế rác thải nhựa. Ảnh: Minh Quân.
Thực tế cho thấy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn sẽ hạn chế rác thải nhựa. Ảnh: Minh Quân.

Và EPR được thể hiện hóa trong Nghị định 110/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 25/5, quy định rõ trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì đối với DN sản xuất, nhập khẩu. Chính sách được kỳ vọng tạo cú hích cho kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất xanh và giảm áp lực rác thải môi trường. Theo đó, DN sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam. Trường hợp ủy thác nhập khẩu, đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Điều này làm rõ trách nhiệm pháp lý, hạn chế tình trạng “né” nghĩa vụ môi trường.

Nội dung Nghị định cũng nêu rõ, bao bì quy định trên là bao bì thương phẩm (bao gồm cả loại bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của sản phẩm, hàng hóa sau đây: thực phẩm theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm (trừ kẹo cao su); mỹ phẩm theo quy định của Chính phủ về điều kiện sản xuất mỹ phẩm; thuốc theo quy định của pháp luật về dược; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y theo quy định của pháp luật về phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y; xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh dùng trong nông nghiệp, y tế và hoạt động sinh hoạt; xi măng.

Nghị định quy định cụ thể về tỷ lệ tái chế bắt buộc. Tỷ lệ tái chế sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm một lần, với mức tăng không quá 10% mỗi lần. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029. Cơ chế này giúp DN có thời gian thích nghi, đồng thời tạo áp lực nâng cao hiệu quả tái chế theo lộ trình. DN có thể lựa chọn nhiều hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế như tự tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức chuyên trách. Điều này tạo sự linh hoạt, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng DN. Tuy nhiên, tất cả các đơn vị tham gia tái chế đều phải đáp ứng yêu cầu về giấy phép môi trường theo quy định.

Trong khi đó theo ông Lương Ngọc Quang, Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong giai đoạn 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, tuy nhiên vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý. Vẫn theo ông Quang, nguyên nhân lớn nhất vẫn nằm ở nhận thức và thói quen. Tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn phổ biến, phản ánh thói quen “tiện đâu vứt đấy”, gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước.

Bên cạnh đó, hạ tầng thu gom chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều bể chứa thiếu hoặc xây dựng không đúng chuẩn.Vấn đề kinh phí được xem là điểm nghẽn lớn nhất. Nhiều địa phương thu gom bao bì nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ còn thiếu rõ ràng.

Nam Anh