Phân cấp nhưng thiếu tiêu chuẩn, quy trình dễ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau
Đại biểu Quốc hội cho rằng khi cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, phải bảo đảm được chất lượng vật tư đầu vào, an toàn sinh học, bảo vệ được người nông dân, và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
Phải bảo vệ được người nông dân
Ngày 7/8, Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, GS.TS Nguyễn Thị Lan (Đại biểu Quốc hội Đoàn TP. Hà Nội) cho rằng, điểm mới lớn nhất của dự thảo lần này không phải cắt giảm một số thủ tục hành chính hay điều kiện đầu tư kinh doanh. Điểm lớn hơn là chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước đối với ngành nông nghiệp. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ việc cấp phép sang tăng cường trách nhiệm tự công bố và tự chịu trách nhiệm của tổ chức cá nhân, từ quản lý theo hồ sơ sang quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu và mức độ tuân thủ.
Bà Lan nhấn mạnh, đây là một hướng đi rất đúng, phù hợp với chủ trương về cải cách hành chính, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế tư nhân, thông lệ quốc tế hiện nay.
Tuy nhiên cho hay, nông nghiệp có đặc thù, khác với các lĩnh vực khác. Đối tượng quản lý chủ yếu là sinh vật sống, chu kỳ sản xuất dài, rủi ro sinh học, dịch bệnh xảy ra rất bất thường, biến đổi khí hậu rất lớn. Đồng thời liên quan trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu hộ nông dân và an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy bà Lan kiến nghị, khi cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này không chỉ nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, phải bảo đảm được chất lượng vật tư đầu vào, an toàn sinh học, đặc biệt phải bảo vệ được người nông dân và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
Đối với Điều 17 của Luật Trồng trọt về việc tự công bố lưu hành giống cây trồng, đồng tình với việc chuyển từ cơ chế công nhận lưu hành sang cơ chế tự công bố, bà Lan nói đây là một bước tiến quan trọng, tích cực, góp phần rút ngắn thời gian đưa giống mới vào sản xuất và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất. Vì thực tế nếu như thời gian để khảo nghiệm, đưa về và đưa vào sản xuất là mất rất nhiều. Nhưng bây giờ sau khi có kết quả nghiên cứu có thể chuyển giao vào thực tiễn.
“Tôi ví dụ một giống lúa hoặc một giống ngô mới, trong năm đầu cho năng suất rất cao. Nông dân phấn khởi và mở rộng diện tích. Nhưng sau vài vụ, việc nhân giống nếu như doanh nghiệp không duy trì được giống gốc, hoặc không kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất thì giống có thể bị thoái hóa, giảm độ thuần và khả năng chống chịu sâu bệnh. Khi đó năng suất giảm, thiệt hại rất nhiều. Người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại rất lớn”, bà Lan phân tích và đề nghị bổ sung trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong suốt thời gian giống lưu hành, bao gồm duy trì chất lượng, đảm bảo để đúng giống đó, khả năng truy xuất nguồn gốc và chịu trách nhiệm khi giống không còn đáp ứng các đặc tính đã công bố. “Cần có cơ chế để hủy bỏ hoặc thu hồi những giống không còn đảm bảo đặc tính như lúc công bố một cách dễ dàng”, bà Lan kiến nghị.
Tự công bố phải gắn với truy xuất nguồn gốc
Về Điều 33 của Luật Chăn nuôi, trong đó có việc tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi, tuy đồng tình với việc sửa đổi và chủ trương chuyển mạnh sang cơ chế tự công bố, nhưng theo bà Lan trong dự thảo mới quy định quyền tự công bố, tự cập nhật thông tin, chưa quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp sau khi thông tin được thay đổi.
Nêu ví dụ, một doanh nghiệp tự công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi với thành phần và hàm lượng dinh dưỡng nhất định. Sau đó, doanh nghiệp thay đổi nguồn nguyên liệu, hoặc công thức phối trộn để giảm giá thành nhưng không cập nhật đầy đủ thông tin lên hệ thống, bà Lan đề nghị bổ sung thêm trách nhiệm cập nhật kịp thời các thay đổi về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng và quy trình sản xuất. Đồng thời quy định rõ việc tự công bố phải gắn với truy xuất nguồn gốc, công khai cảnh báo và thu hồi khi sản phẩm không còn đáp ứng chất lượng đã công bố. Quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhưng cũng bảo vệ người chăn nuôi, nâng hiệu quả của cơ chế hậu kiểm.
Tương tự đối với Luật Thú y, đồng tình với chủ trương phân cấp mạnh hơn cho địa phương trong một số các thủ tục chuyên ngành như: kiểm dịch động vật, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y. Tuy nhiên bà Lan nhìn nhận, trong dự thảo Luật mới chỉ quy định về phân cấp nhưng chưa làm rõ nguyên tắc để đảm bảo thống nhất về chuyên môn khi tổ chức thực hiện.
“Đối với lĩnh vực thú y, các vấn đề về dịch bệnh rất quan trọng. Nếu chỉ phân cấp mà thiếu tiêu chuẩn, quy trình và dữ liệu thống nhất thì rất dễ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau”, bà Lan cảnh báo.