Quảng Ninh: Phát triển các làng nghề truyền thống thành sản phẩm du lịch
Trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu phát triển 13 làng nghề thành sản phẩm văn hóa, du lịch.
UBND tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt Đề án phát triển các làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026 - 2030. Đề án được xây dựng nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống như một phần di sản văn hóa đặc sắc và trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch đặc thù của địa phương.
Việc triển khai đề án sẽ hình thành mạng lưới làng nghề - cụm nghề tại nông thôn có cơ sở hạ tầng, sản xuất - trưng bày - trải nghiệm đồng bộ; định vị nhóm ngành nghề mũi nhọn phù hợp với điều kiện sinh thái và văn hóa vùng miền. Qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn và tạo động lực phát triển kinh tế xanh bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới.

Đề án xác định rõ các mục tiêu cụ thể của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2026 - 2030 như: Công nhận 13 làng nghề và 4 làng nghề truyền thống; bảo tồn 7 làng nghề gắn với phát triển văn hóa du lịch; tối thiểu 80% làng nghề được quy hoạch không gian; 100% làng nghề truyền thống xây dựng phương án bảo vệ môi trường; xây dựng bộ nhận diện du lịch làng nghề (logo, slogan, bản đồ số); 50% sản phẩm từ làng nghề tham gia chuỗi OCOP; hình thành ít nhất 3 - 5 mô hình làng nghề gắn với hoạt động du lịch văn hóa cộng đồng, có hệ sinh thái dịch vụ và sản phẩm du lịch đồng bộ và có thông tin trên nền tảng số (bản đồ số, Google Map, website, sàn thương mại điện tử); tăng lượng khách du lịch đến tham quan làng nghề truyền thống ít nhất 10-15% mỗi năm;... Cùng với đó, thu nhập bình quân lao động trong các hoạt động ngành nghề nông thôn gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020; tỷ lệ lao động qua đào tạo khu vực ngành nghề nông thôn là 80% và tỷ lệ được cấp bằng, chứng chỉ đạt 35%; hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, ổn định đáp ứng 70% nhu cầu phát triển ngành nghề nông thôn;...
Trong đó, Quảng Ninh đặt mục tiêu phát triển 13 làng nghề trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch, gồm: Làng nghề trồng và chế biến củ cải Đầm Hà - Quảng Tân; Làng nghề miến dong Bình Liêu; Làng nghề nước mắm truyền thống Vân Đồn; Làng nghề trồng và chế biến chè Đường Hoa; Làng nghề trồng và chế biến dược liệu Ba Chẽ; Làng nghề đan lưới Cái Đước (Quảng Hà); Làng nghề trồng Mai vàng Yên Tử (Bình Khê); Làng nghề trồng hoa Đồng Chè (Hoành Bồ); Làng trồng cam Vân Đồn; Làng chài Cửa Vạn; Làng Nương Yên Tử; Làng Du lịch cộng đồng thôn Khe Phương; Làng nghề nuôi trồng thủy sản kết hợp du lịch cộng đồng (Vân Đồn - Cô Tô - Hạ Long - Cẩm Phả).

Quảng Ninh cũng xác định các nghề, làng nghề cần được ưu tiên bảo tồn và gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, du lịch của tỉnh, bao gồm: Làng nghề bánh Gio Phong Cốc; Làng nghề làm bún Hiệp Hòa; Làng nghề gốm Đông Triều; Làng nghề đan lát người Tày; Làng nghề thêu thổ cẩm người Dao; Làng nghề đan ngư cụ Hưng Học; Làng nghề làm nước mắm Vân Đồn; Nghề nuôi vịt biển; Nghề làm hương bài; Nghề chế tác ngọc trai; Nghề điêu khắc than đá mỹ nghệ; Nghề đóng tàu vỏ gỗ Cống Mương; Nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ Đò Chanh; Nghề đóng, sửa chữa tàu thuyền Hà An.
Việc xây dựng các mô hình theo hướng "Phát triển, bảo tồn nghề, làng nghề trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch", trong đó không gian sản xuất, trình diễn nghề, trưng bày - bán hàng được tổ chức gắn với di sản, lễ hội, ẩm thực về cảnh quan bản địa.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, Đề án cũng đề ra các nhóm giải pháp cụ thể về vốn đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực; cơ chế, chính sách; khoa học, công nghệ và môi trường, quy hoạch sử dụng đất; nguồn nguyên liệu; tổ chức sản xuất, thị trường và xúc tiến thương mại; truyền thông và chuyển đổi số;...
UBND tỉnh Quảng Ninh cũng phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các Sở, ban, ngành và địa phương... tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án.
Theo UBND tỉnh Quảng Ninh, tổng kinh phí thực hiện Đề án phát triển các làng nghề truyền thống thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026 - 2030 là 124,5 tỷ đồng, gồm: 31,125 tỷ đồng từ ngân sách (chiếm 25%); 80,925 tỷ đồng ngoài ngân sách (chiếm 65%) và 12,45 tỷ đồng từ các nguồn hợp pháp khác (chiếm 10%).