Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Quốc hội thảo luận dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 10/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Thời gian giải quyết bồi thường không nên quá 30 ngày

Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, đại biểu Quốc hội Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An) thống nhất với việc sửa đổi quy định tại Khoản 9 Điều 17: “Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế”.

Đại biểu Thái Thị An Chung phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Đại biểu Thái Thị An Chung phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Bà Chung nhìn nhận quy định này khắc phục được hạn chế của phương pháp liệt kê, tránh bỏ sót những trường hợp người nộp thuế thực tế bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý thuế nhưng không thuộc 4 nhóm hành vi như luật hiện hành.

Mặt khác, việc dẫn chiếu trực tiếp đến hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế tạo sự thống nhất giữa hai luật. Đồng thời có tính linh hoạt, tránh tình trạng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải liên tục sửa đổi mỗi khi pháp luật quản lý thuế phát sinh hoặc bổ sung hình thức quản lý mới. Qua đó, đảm bảo tốt hơn nguyên tắc mọi thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra phải được xem xét bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đồng tình việc sửa đổi, bổ sung Điều 47 theo hướng quy định rõ việc ra quyết định giải quyết bồi thường kể cả trường hợp thương lượng thành công và thương lượng không thành công để giải quyết vướng mắc trong thực tiễn. Tuy nhiên, bà Chung cho rằng, việc dự thảo Luật sửa quy định thời gian có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường từ 15 ngày lên 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Bởi vì quyết định giải quyết bồi thường là kết quả của một quá trình xác minh, thương lượng và xác định trách nhiệm bồi thường.

Việc kéo dài thời gian quyết định chưa có hiệu lực sẽ làm chậm thời điểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước, trong khi người bị thiệt hại thường đã phải trải qua một quá trình giải quyết kéo dài và rất cần được bồi thường kịp thời để khắc phục hậu quả. Nếu kéo dài thời gian quyết định chưa có hiệu lực cũng sẽ kéo dài thời điểm chấm dứt vụ việc và không đảm bảo tính kịp thời mà nguyên tắc bồi thường đã đặt ra.

“Nếu chỉ vì bất cập, vướng mắc liên quan đến thời hiệu khởi kiện ra Tòa án để giải quyết yêu cầu bồi thường của người yêu cầu bồi thường là 15 ngày, thì như Báo cáo 412 của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành luật cần phải làm rõ mối quan hệ giữa thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường thiệt hại và thời hạn khởi kiện ra Tòa án. Trường hợp cần thiết phải kéo dài cũng chỉ nên quy định là 30 ngày, tương tự như thời hạn có hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại hành chính”, bà Chung kiến nghị.

Tham mưu xây dựng văn bản thuế gây ra thiệt hại có phải bồi thường?

Theo đại biểu Quốc hội Trương Thị Diệu Thuý (Đoàn Đồng Nai), cùng với việc Chính phủ đề xuất sửa đổi Khoản 1 Điều 4 và Khoản 9 Điều 17 trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành, tại mục 4.3 trang 9 của Tờ trình số 428 ngày 24/7/2026 của Chính phủ xác định: Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ là luật thủ tục về bồi thường nhà nước. Bà Thuý cho biết nhiều ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, cùng cá nhân bà không đồng tình với quan điểm này.

Theo bà Thuý, cần phải xác định Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không chỉ là luật về thủ tục bồi thường nhà nước, mà phải vừa là luật về thủ tục, đồng thời cũng là luật về nội dung. Vì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vừa là luật xác định phạm vi, vừa là luật xác định thủ tục. Cho nên khi Luật Quản lý thuế dẫn chiếu đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để vừa xác định thế nào là hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý thuế?, đồng thời quy định thủ tục giải quyết bồi thường khi có thiệt hại gây ra trong lĩnh vực quản lý thuế.

Đại biểu Trương Thị Diệu Thuý phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Đại biểu Trương Thị Diệu Thuý phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Bà Thuý lo ngại, nếu quy định theo hướng Luật Quản lý thuế dẫn chiếu đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Sau đó Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dẫn chiếu ngược trở lại, sẽ gây ra một khoảng trống pháp lý, vướng mắc. Nếu Khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định cụ thể gì về hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý thuế như luật hiện hành sẽ gây ra khoảng trống pháp lý.

“Ví dụ như công chức thuế không chỉ có hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực thu thuế trực tiếp mà tham mưu xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật về thuế có vướng mắc, gây ra những thiệt hại thì có phải bồi thường không?”, bà Thuý nêu vấn đề và cho rằng đây là một vấn đề đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rất rõ để tránh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Anh Vũ - Việt Thắng - Quang Vinh