Báo Đại Đoàn Kết Công nghệ

Rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 5G, chủ động nghiên cứu 6G

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 5G, chủ động nghiên cứu 6G

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Đến đầu năm 2026, Việt Nam đã triển khai hơn 40.000 trạm phát sóng 5G, trong đó khoảng 250 trạm sử dụng thiết bị do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, sản xuất và triển khai. Từ kinh nghiệm phát triển 4G, 5G, Việt Nam đặt mục tiêu tiếp tục rút ngắn thời gian nghiên cứu, làm chủ và thương mại hóa công nghệ 6G.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Ban Chỉ đạo nghiên cứu và phát triển 6G. Ảnh minh họa: MobiFone.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Ban Chỉ đạo nghiên cứu và phát triển 6G.
Ảnh minh họa: MobiFone.

Hơn 40.000 trạm phát sóng 5G

Thông tin về tiến độ phát triển và thương mại hóa công nghệ 5G, ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong triển khai hạ tầng 5G, đồng thời từng bước chuẩn bị cho nghiên cứu và phát triển công nghệ 6G.

Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam triển khai 5G khá sớm và với tốc độ nhanh so với nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là kết quả từ định hướng phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số và từng bước làm chủ các công nghệ viễn thông mới.

Đến nay, Việt Nam đã làm chủ công nghệ sản xuất và thương mại hóa thiết bị 5G theo chuẩn quốc tế. Cả nước có hơn 40.000 trạm phát sóng 5G đang được triển khai, trong đó khoảng 250 trạm sử dụng thiết bị 5G do Việt Nam nghiên cứu, sản xuất và triển khai.

Thời gian tới, mục tiêu được đặt ra là tiếp tục mở rộng số lượng trạm sử dụng thiết bị “Make in Vietnam”, qua đó tăng tỷ lệ sản phẩm, công nghệ do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và phát triển trong hạ tầng viễn thông.

Từ quá trình phát triển các thế hệ công nghệ trước, Việt Nam cũng đang có nền tảng để chủ động tham gia vào cuộc đua 6G. Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, nếu với 4G, Việt Nam mất hơn 8 năm kể từ khi tiêu chuẩn được ban hành để làm chủ công nghệ và sản xuất thiết bị, thì với 5G, thời gian này đã rút xuống còn khoảng 2 năm.

Kinh nghiệm tích lũy từ 4G và 5G được xem là cơ sở để Việt Nam tiếp tục rút ngắn thời gian nghiên cứu, làm chủ và triển khai công nghệ 6G trong những năm tới.

Chủ động tham gia từ giai đoạn xây dựng tiêu chuẩn 6G

Khác với việc chỉ tiếp nhận công nghệ khi các tiêu chuẩn đã hoàn thiện, Việt Nam đang hướng tới việc tham gia sâu hơn ngay từ quá trình nghiên cứu và xây dựng tiêu chuẩn 6G.

Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, 6G là lĩnh vực có tính toàn cầu, đòi hỏi sự phối hợp giữa các quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế để bảo đảm khả năng tương thích của hạ tầng viễn thông trên phạm vi thế giới.

Vì vậy, quá trình nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn và phát triển công nghệ 6G cần được thực hiện thông qua hợp tác với các tổ chức nghiên cứu, tiêu chuẩn hóa quốc tế.

Để chủ động tham gia quá trình này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập Ban Chỉ đạo nghiên cứu và phát triển 6G, với sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp viễn thông, trường đại học và viện nghiên cứu.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu trong nước tiếp cận công nghệ ngay từ giai đoạn hình thành tiêu chuẩn. Qua đó, Việt Nam có thêm cơ hội tham gia nghiên cứu, đóng góp vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế, từng bước làm chủ công nghệ và chuẩn bị phương án triển khai 6G phù hợp với điều kiện trong nước.

Gỡ vướng về băng tần, chia sẻ hạ tầng

Những vấn đề thực tiễn trong triển khai viễn thông, quản lý tần số và chia sẻ hạ tầng cũng được đưa ra trao đổi trong quá trình hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

Tại buổi làm việc của Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội làm việc với Tổng công ty Viễn thông MobiFone tại Hà Nội vừa qua, Thiếu tướng Trương Sơn Lâm, Chủ tịch Tổng công ty Viễn thông MobiFone bày tỏ sự đồng tình với phương án nâng thời hạn cấp phép ban đầu đối với băng tần lưỡng dụng từ 3 năm lên 5 năm. Theo doanh nghiệp, quá trình đầu tư, triển khai và đưa mạng vào khai thác ổn định thường mất khoảng 21-24 tháng, do đó cần có khoảng thời gian đủ dài để đánh giá hiệu quả của đề án.

Về yêu cầu dành tối thiểu 51% lượng tần số cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, MobiFone cho rằng công nghệ 4G, 5G hiện nay cho phép theo dõi, xác định phần tài nguyên được sử dụng cho từng mục đích. Phần tần số khai thác cho hoạt động kinh doanh có thể được hạch toán riêng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.

MobiFone cũng đề nghị làm rõ nguyên tắc chia sẻ hạ tầng, cơ chế giá, trách nhiệm của các bên và việc đánh giá thiết bị lưu khóa mật mã phục vụ cung cấp dịch vụ chữ ký số.

Đối với đề xuất nâng thời hạn cấp phép ban đầu đối với băng tần lưỡng dụng từ 3 năm lên 5 năm, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long cho biết việc điều chỉnh nhằm tạo đủ thời gian để doanh nghiệp đầu tư, triển khai mạng, đưa vào khai thác và đánh giá hiệu quả đề án. Việc này không làm thay đổi tổng thời hạn cấp phép tối đa là 15 năm.

Về tỷ lệ tần số phục vụ quốc phòng, an ninh, Thứ trưởng cho rằng cần xác định theo từng đề án, căn cứ vào công nghệ, thiết kế mạng và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể, thay vì áp dụng một công thức chung cho mọi trường hợp.

Phần tài nguyên tần số được sử dụng cho hoạt động kinh doanh vẫn phải được quản lý riêng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Đối với chia sẻ hạ tầng, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị tiếp tục làm rõ phạm vi, hình thức thực hiện, cơ chế giá và trách nhiệm của các bên. Việc sử dụng chung hạ tầng cần dựa trên nhu cầu và năng lực hạ tầng còn dư, góp phần tránh đầu tư trùng lặp nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và cạnh tranh trên thị trường.

Những ý kiến từ thực tiễn doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ và Đoàn công tác của Quốc hội tiếp thu, xem xét, qua đó góp phần hoàn thiện các quy định, tháo gỡ vướng mắc và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông.

Thu Hương