Báo Đại Đoàn Kết Tài chính

Sự phát triển của stablecoin và lựa chọn chính sách cho Việt Nam

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Sự phát triển của stablecoin và lựa chọn chính sách cho Việt Nam

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nửa đầu năm 2026 được xem là bước ngoặt của thị trường tiền mã hóa ổn định (stablecoin), khi loại tài sản này chuyển từ phân khúc mang tính đầu cơ sang một cấu phần chính thống của hạ tầng thanh toán quốc tế. Cùng với xu hướng hoàn thiện khuôn khổ quản lý tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và nhiều nền kinh tế châu Á, Việt Nam đã có khung pháp lý cho tài sản mã hóa và đang nghiên cứu các quy định phù hợp đối với stablecoin.

Việt Nam đã có khung pháp lý cho tài sản mã hóa và đang nghiên cứu các quy định phù hợp đối với stablecoin.
Việt Nam đã có khung pháp lý cho tài sản mã hóa và đang nghiên cứu các quy định phù hợp đối với stablecoin.

Việt Nam từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý

Theo số liệu tổng hợp, tổng vốn hóa thị trường stablecoin toàn cầu đã đạt mức kỷ lục 322 tỷ USD vào tháng 6/2026, tăng hơn gấp đôi so với khoảng 150 tỷ USD đầu năm 2024. Riêng sáu tháng đầu năm 2026, nguồn cung stablecoin tăng 29%, lần lượt vượt mốc 315 tỷ USD trong tháng 4, lên 320 tỷ USD trong tháng 5 và đạt đỉnh 322 tỷ USD trong tháng 6.

Trong báo cáo “Understanding Stablecoins” công bố tháng 12/2025, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo việc mở rộng sử dụng stablecoin có thể góp phần gây hiện tượng thay thế tiền tệ, gia tăng biến động dòng vốn thông qua lách các biện pháp kiểm soát vốn và làm phân mảnh hệ thống thanh toán. Rủi ro nghiêm trọng hơn ở những quốc gia có lạm phát cao, thể chế còn yếu hoặc niềm tin vào khuôn khổ tiền tệ trong nước suy giảm.

Tại Việt Nam, khung pháp lý đầu tiên cho tài sản số chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 với Luật Công nghiệp công nghệ số (Luật số 71/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025. Luật lần đầu tiên luật hóa khái niệm tài sản số, phân thành ba nhóm là tài sản ảo, tài sản mã hóa và tài sản số khác; đồng thời khẳng định công nhận tài sản mã hóa là tài sản hợp pháp nhưng không biến các loại tiền mã hóa, bao gồm stablecoin, thành phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.

Song song, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP thiết lập cơ chế thí điểm thị trường giao dịch tài sản mã hóa trong 5 năm, với các điều kiện tham gia cụ thể: sàn giao dịch phải có vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng bằng tiền mặt, trong đó ít nhất 35% vốn do tối thiểu hai tổ chức cùng góp. Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, mô hình thí điểm ban đầu dự kiến giới hạn ở 5 sàn giao dịch.

Các văn bản hướng dẫn thi hành tiếp tục được ban hành đồng bộ. Ngày 20/1/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 96 công bố ba thủ tục hành chính thí điểm về cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép. Tiếp đó là Thông tư số 15/2026/TT-BTC ngày 4/3/2026 hướng dẫn nguyên tắc kế toán và Thông tư số 32/2026/TT-BTC hướng dẫn chính sách thuế đối với tài sản mã hóa. Dự thảo nghị định xử phạt vi phạm hành chính đang được hoàn thiện, theo đó cá nhân giao dịch không qua tổ chức được cấp phép có thể bị phạt 30 - 50 triệu đồng, giao dịch khi không đủ điều kiện bị phạt 70 - 100 triệu đồng; tổ chức quảng cáo hoặc cung cấp dịch vụ khi chưa được cấp phép có thể bị phạt tới 200 triệu đồng.

Về hạ tầng, nền tảng blockchain quốc gia NDAChain vận hành từ tháng 7/2025, đóng vai trò hạ tầng định danh và lưu trữ dữ liệu dùng chung, cho phép các nền tảng được cấp phép giao dịch bằng tiền đồng. Hiện nay, hoạt động phát hành và lưu hành stablecoin được điều chỉnh trong khuôn khổ pháp luật chung về tài sản mã hóa. Việc nghiên cứu các quy định chuyên biệt cho stablecoin, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Đạo luật GENIUS và Khung MiCA, được đặt ra cho giai đoạn tới.

Dư địa thị trường trong nước rất lớn. Ước tính có khoảng 21,2 triệu người trưởng thành, tương đương 17% dân số trưởng thành, đã từng sử dụng tài sản mã hóa, với tổng giá trị giao dịch hằng năm trên các sàn nước ngoài trên 100 tỷ USD, tương đương khoảng 25% GDP. Khoảng 70% người sở hữu tài sản mã hóa thuộc nhóm tuổi 18 - 34. Mục tiêu của Nghị quyết 05 là chuyển phần lớn dòng giao dịch này về thị trường trong nước có kiểm soát, vừa bảo vệ nhà đầu tư, vừa tạo cơ sở thu thuế và giám sát phòng, chống rửa tiền.

Trong giai đoạn đầu, cơ chế thí điểm được thiết kế theo hướng thận trọng, với yêu cầu cao về vốn điều lệ, thanh toán bằng tiền đồng và ưu tiên tài sản thực được token hóa, qua đó hướng tới dòng vốn tổ chức và bảo đảm an toàn hệ thống. Trên cơ sở kết quả thí điểm, phạm vi tham gia của nhà đầu tư cá nhân có thể được xem xét mở rộng phù hợp với năng lực giám sát.

Một số khuyến nghị chính sách

Từ thực tiễn quốc tế và trong nước, một số đề xuất định hướng cho giai đoạn 2026 – 2030 như sau:

Một là nghiên cứu xây dựng khung pháp lý riêng cho stablecoin, tách bạch với quy định chung về tài sản mã hóa, quy định rõ yêu cầu về dự trữ tài sản bảo đảm, quản trị dự trữ, kiểm toán độc lập định kỳ…

Hai là, ưu tiên trình tự chính sách theo hướng thí điểm các sản phẩm stablecoin neo giá đồng Việt Nam do tổ chức tín dụng hoặc tổ chức được cấp phép trong nước phát hành, trước khi cân nhắc mở rộng lưu hành stablecoin neo giá ngoại tệ cho mục đích thanh toán trong nước, nhằm giảm nguy cơ thay thế tiền tệ.

Ba là, thiết lập cơ chế phối hợp giám sát liên thông giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính ( Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) và các cơ quan liên quan, với chia sẻ dữ liệu giám sát theo thời gian thực, cảnh báo sớm và phân định rõ trách nhiệm; có thể tham khảo mô hình Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc).

Bốn là, quản lý dựa trên mức độ rủi ro kết hợp quản lý theo hoạt động, theo nguyên tắc “cùng hoạt động, cùng rủi ro, cùng quy định”: stablecoin phục vụ thanh toán hoặc có quy mô lớn phải chịu yêu cầu nghiêm ngặt hơn về vốn, dự trữ, thanh khoản và công bố thông tin, trong khi stablecoin nhỏ hoặc trong hệ sinh thái khép kín có thể áp dụng cơ chế đơn giản hơn.

Năm là, tận dụng hiệu quả hạ tầng NDAChain và hệ thống sàn giao dịch được cấp phép để thu hút hoạt động giao dịch đang diễn ra trên các nền tảng nước ngoài về thị trường trong nước, qua đó mở rộng cơ sở thuế quốc gia.

Ánh Nguyệt

( Viện Nghiên cứu chiến lược và phát triển chính sách - Bộ Tài chính)

Ánh Nguyệt