Tạo động lực tăng trưởng mới từ biển
Thực tế hiện nay sự đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của một quốc gia có hơn 3.260km bờ biển và diện tích biển hơn 1 triệu km2. Nhiều điểm nghẽn để phát triển kinh tế biển đang kỳ vọng vào việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế biển nhằm đóng góp cho tăng trưởng của đất nước trong thời gian tới.
Đổi mới tư duy từ “quản lý tài nguyên đơn lẻ” sang “quản trị tổng hợp không gian biển”
Việt Nam là quốc gia biển với vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Với hơn 3.260 km bờ biển, hàng nghìn hòn đảo cùng vùng biển rộng lớn, biển không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn là cửa ngõ giao lưu quốc tế, kết nối Việt Nam với các trung tâm kinh tế năng động của thế giới. Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý và phát triển biển đang xuất hiện nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, sau hơn 8 năm triển khai về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu. Tuy nhiên, sự đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của một quốc gia có hơn 3.260km bờ biển và diện tích biển hơn 1 triệu km2.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước, những giao thoa, bất cập giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các bộ luật chuyên ngành khác như Luật Điện lực, Luật Hàng hải. Theo đó, sự thiếu thống nhất này không chỉ làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính phức tạp mà còn tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, khiến các dự án kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi hay nuôi trồng thủy sản biển xa bờ gặp khó khăn khi triển khai thực tế.
Vì thế để khơi thông các điểm nghẽn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế biển nhằm đóng góp cho tăng trưởng của đất nước trong thời gian tới là phải đổi mới tư duy phát triển biển, lấy hoàn thiện thể chế làm khâu đột phá để mở đường cho các nguồn lực đầu tư và đổi mới sáng tạo. Những vấn đề trên đang kỳ vọng ở việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu. Đề cập đến những điểm mới mang tính đột phá trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, điểm cốt lõi của lần sửa đổi này là việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy quản lý tài nguyên đơn lẻ sang quản trị tổng hợp không gian biển. Dự thảo luật mới nhìn nhận biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà là một không gian phát triển đa mục tiêu, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Cơ chế ưu đãi đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới
Đặc biệt, dự thảo lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Theo ông Toản, điều này sẽ giúp hạn chế cơ chế “xin – cho”, tăng tính minh bạch và tạo môi trường pháp lý ổn định, lâu dài cho các nhà đầu tư lớn. Bên cạnh đó, các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế carbon thấp và logistics biển cũng được đề xuất để kiến tạo động lực phát triển mới.
Ông Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhìn nhận, đối với Việt Nam, phát triển kinh tế biển không đơn thuần là câu chuyện kinh tế mà luôn gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Các dự án phát triển hạ tầng biển, cảng biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, khai thác tài nguyên hay phát triển các khu kinh tế ven biển cần được quy hoạch đồng bộ, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đối ngoại biển, tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao; thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.
Do đó, để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, theo ông Thuận, cần có những bước đi mang tính đột phá cả về tư duy và hành động. Phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần sang tư duy phát triển bền vững dựa trên kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo. Xây dựng hệ thống quản trị biển hiện đại dựa trên dữ liệu số, ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong quản lý tài nguyên, dự báo môi trường và quy hoạch không gian biển. Biển đang mở ra cho Việt Nam những cơ hội phát triển to lớn chưa từng có. Hoàn thiện thể chế, chính sách không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước mà còn là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sản xuất, phát huy lợi thế quốc gia biển và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Ông Lê Việt Trường, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, an ninh (nay là Uỷ ban Quốc phòng an ninh và đối ngoại) cũng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, kinh tế biển không đơn thuần chỉ là động lực tăng trưởng mới của đất nước, mà còn là không gian chiến lược gắn với quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững thì việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về biển là vấn đề cấp thiết nhằm khơi thông nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế biển của Việt Nam.
Theo ông Trường, Trung ương đã có Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trên cơ sở đó, phải chú trọng 4 yếu tố. Theo đó, phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế biển, gồm các bến cảng, hệ thống giao thông ven biển, đảo. Tập trung phát triển đội tàu thuyền, phương tiện trên biển. Phải có lực lượng bảo vệ biển. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển khoa học biển, áp dụng các công nghệ mới để bảo đảm phát triển xanh, bền vững.
“Trong bối cảnh hiện nay cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong điều tra các tiềm năng, thế mạnh, trữ lượng từ biển để hình thành dữ liệu. Từ đó, thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển, khai thác. Nếu một mình Nhà nước thì sẽ không đủ nguồn lực nên cần hình thành các cơ chế chính sách để thu hút nguồn lực xã hội, khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng biển, logistics, các ngành công nghiệp biển công nghệ cao. Nhà nước chỉ đóng vai trò kiến tạo, còn lại phải thu hút các nguồn lực xã hội. Biển là môi trường rất đặc thù. Vì thế phải có chính sách, pháp luật, thể chế đủ tốt để thu hút được nguồn lực ở trong nước cũng như nước ngoài do đó cần tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao”-ông Trường bày tỏ và cho rằng cần có cơ chế để thu hút được nguồn lực từ bên ngoài, đan xen lợi ích, ràng buộc và có sự bảo vệ lẫn nhau.
Để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển trong bối cảnh mới, TS Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho hay, cần hoàn thiện thể chế với trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo pháp luật, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi. Huy động nguồn lực bằng thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư (PPP) và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế. Đột phá khoa học công nghệ với ưu tiên chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và ứng dụng AI trong quản lý biển.
Để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển trong bối cảnh mới, TS Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho hay, cần hoàn thiện thể chế với trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo pháp luật, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi. Huy động nguồn lực bằng thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư (PPP) và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế. Đột phá khoa học công nghệ với ưu tiên chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và ứng dụng AI trong quản lý biển.