Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

TP Hồ Chí Minh: Kết nối cảng biển, nâng sức cạnh tranh logistics

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

TP Hồ Chí Minh: Kết nối cảng biển, nâng sức cạnh tranh logistics

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
TP Hồ Chí Minh: Kết nối cảng biển, nâng sức cạnh tranh logistics
Kết nối đồng bộ các phương thức vận tải sẽ góp phần phát huy lợi thế cảng biển, nâng sức cạnh tranh logistics. Ảnh: S.X

Không gian cảng biển TPHCM được mở rộng, tạo điều kiện hình thành mạng lưới cảng biển - logistics liên vùng. Tuy nhiên, để biến lợi thế quy mô thành năng lực cạnh tranh, bài toán kết nối hạ tầng và tổ chức vận hành đang đặt ra.

Ngoài các cụm cảng Cát Lái, Hiệp Phước, Nhà Bè, TPHCM còn có cụm cảng Bình Dương trên trục sông Đồng Nai - Sài Gòn và cụm cảng Bà Rịa - Vũng Tàu, đặc biệt là Cái Mép - Thị Vải. Đây là cơ sở để thành phố từng bước định vị vai trò là trung tâm điều phối cảng biển - logistics của cả nước, hướng tới nâng cao vị thế trong mạng lưới logistics khu vực.

Xây hệ sinh thái logistics

Sở Xây dựng TPHCM cho biết, Quyết định số 1061/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển cảng biển theo hướng tăng năng lực khai thác, hiện đại hóa hạ tầng, chuyển đổi xanh và tăng cường liên kết vùng. Trong quy hoạch này, khu vực phía Nam được xác định là trọng điểm phát triển cảng biển quốc gia, đặc biệt là TPHCM. Theo kế hoạch, đến năm 2030, hệ thống cảng biển thành phố dự kiến thông qua từ 463,4 - 512,5 triệu tấn hàng hóa. Cụ thể, hàng container đạt khoảng 29,63 - 33,16 triệu TEU, chưa bao gồm hàng trung chuyển quốc tế; lượng hành khách qua cảng đạt khoảng 3 - 3,3 triệu lượt. Tầm nhìn đến năm 2050, nhu cầu thông qua hàng hóa tiếp tục tăng với tốc độ bình quân khoảng 4,4 - 4,9%/năm, trong khi lượng hành khách tăng bình quân khoảng 1 - 1,4%/năm.

Những con số vừa phản ánh quy mô khai thác cảng trong tương lai, vừa đặt ra bài toán lớn về năng lực logistics phía sau cảng. Nếu hệ thống đường bộ, đường thủy, đường sắt, kho bãi, ICD và các trung tâm logistics không phát triển tương ứng, lợi thế cảng nước sâu sẽ khó chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh của toàn chuỗi. Bà Đặng Thị Minh Phương - Chủ tịch Hiệp hội Logistics cảng biển TPHCM khẳng định, cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải hiện có khả năng tiếp nhận trực tiếp tàu trọng tải khoảng 24.000 TEU, tương đương khoảng 250.000 tấn hàng. Sản lượng container tại khu vực này tăng khoảng 7-9% mỗi năm. Tuy nhiên, theo bà Phương, tiềm năng của hệ thống cảng nước sâu vẫn chưa được khai thác đầy đủ, trong khi kết nối giao thông liên vùng còn nhiều bất cập. “Khu vực phía Nam đóng góp khoảng 45% GDP cả nước nhưng chi phí logistics vẫn ở mức khoảng 18% GDP. Điểm nghẽn vì thế không hẳn nằm ở năng lực bốc xếp hay thiếu kho bãi, mà ở khả năng kết nối và tổ chức vận hành đồng bộ giữa các địa phương” - bà Phương chỉ rõ.

Ở góc độ kết nối với Cái Mép - Thị Vải, ông Trương Tấn Lộc - Giám đốc Marketing Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn cho rằng, đường sắt cần được quan tâm hơn trong mạng lưới kết nối cảng. Việc thúc đẩy tuyến đường sắt kết nối với cụm cảng Cái Mép sẽ góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí và tạo thêm một phương thức vận tải cho hàng hóa xuất nhập khẩu. Kết nối cảng cần được đặt trong tổng thể hệ sinh thái logistics phía sau cảng. Bà Ngô Thị Thanh Vy - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng quốc tế QTM chia sẻ, ngoài việc chú trọng tốc độ xếp dỡ hàng tại cảng thì hành trình từ sản xuất, tổng chi phí của chuỗi, khả năng minh bạch thông tin, an toàn,… cũng được quan tâm. Do đó, năng lực cạnh tranh của cảng sẽ phụ thuộc vào hệ sinh thái phía sau như: giao thông, kho bãi, trung tâm logistics, vận tải đường bộ, đường thủy, công nghệ, dữ liệu và thủ tục. “Một cảng mạnh chưa chắc tạo nên một chuỗi logistics mạnh. Nhưng một hệ sinh thái logistics mạnh chắc chắn sẽ làm cho cảng cạnh tranh hơn” - bà Vy nhấn mạnh.

Hợp tác quốc tế, tháo gỡ điểm nghẽn

Theo bà Đặng Thị Minh Phương, TPHCM cần chuyển mạnh tư duy phát triển từng cảng sang tổ chức một mạng lưới logistics thống nhất. Trong đó, cơ chế điều phối vùng có ý nghĩa quan trọng nhằm đồng bộ quy hoạch hạ tầng, phân bổ chức năng và tổ chức luồng hàng giữa thành phố và các địa phương. Cùng với đó là phát triển vận tải thủy nội địa, hình thành các điểm gom hàng.

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Ngô Thị Thanh Vy đề xuất, TPHCM có thể chọn một số thành phố cảng đối tác có tính bổ trợ và có quan hệ thương mại để xây dựng các chương trình hợp tác chuyên sâu về cảng biển và logistics. Cách tiếp cận này giúp hợp tác quốc tế đi vào chiều sâu, gắn quan hệ giữa các đô thị với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, hàng hóa và chuỗi cung ứng.

Khi quy mô cảng biển được mở rộng, bài toán đặt ra là đầu tư thêm hạ tầng, công nghệ và phương thức quản trị mới. Đây là khoảng không để hợp tác quốc tế và ngoại giao kinh tế tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển logistics của thành phố. Ông Phạm Dứt Điểm - Giám đốc Sở Ngoại vụ TPHCM nhấn mạnh, cảng biển và logistics là cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của thành phố nhưng lại đang chịu sức ép từ chi phí logistics, hạn chế của hạ tầng, các yêu cầu ngày càng cao về chuyển đổi xanh từ những thị trường xuất khẩu lớn. Thực tế đó cho thấy, hợp tác quốc tế góp phần giải quyết nguồn vốn và hạ tầng chiến lược; công nghệ, tiêu chuẩn xanh; quản trị, kết nối chuỗi cung ứng.

Sau sáp nhập, lợi thế của TPHCM nằm ở quy mô cảng biển nhưng cần tổ chức lại toàn bộ không gian logistics theo hướng liên kết và đa phương thức. Khi hạ tầng được kết nối, dữ liệu được chia sẻ và cơ chế điều phối vùng từng bước hình thành, Thành phố sẽ có thêm nền tảng để nâng cấp vai trò từ trung tâm khai thác cảng thành đầu mối logistics có sức cạnh tranh trong chuỗi cung ứng khu vực.

Thanh Giang