Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Trao 'cần câu' để người dân vùng cao xứ Thanh tự tin thoát nghèo

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Trao 'cần câu' để người dân vùng cao xứ Thanh tự tin thoát nghèo

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ở những bản làng vùng cao Thanh Hóa, giảm nghèo đang dần chuyển từ câu chuyện hỗ trợ trước mắt sang tạo dựng sinh kế lâu dài. Khi người dân được tiếp cận vốn vay, chuyển giao kỹ thuật, phát triển kinh tế đồi rừng, học nghề và kết nối việc làm, "chiếc cần câu" không chỉ giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn mở ra cơ hội tự tạo thu nhập, từng bước đứng vững trên hành trình thoát nghèo.

Người dân xã miền núi Hồi Xuân phát triển kinh tế đồi rừng kết hợp chăn nuôi. Ảnh: Thạch Linh
Người dân xã miền núi Hồi Xuân phát triển kinh tế đồi rừng kết hợp chăn nuôi. Ảnh: Thạch Linh

Không áp dụng một "công thức" cho mọi vùng đất

Gia đình anh Trần Văn Mười ở thôn Sơn Cao, xã Luận Thành, từng thuộc diện hộ nghèo. Từ nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội và sự hỗ trợ của địa phương, anh mạnh dạn đầu tư trồng cây ăn quả, xây dựng trại giống cây lâm nghiệp và mở cửa hàng tạp hóa. Đến nay, mỗi năm gia đình anh xuất bán từ 30-50 tấn bưởi, hơn 2 triệu cây giống, sau khi trừ chi phí thu lãi khoảng 400 triệu đồng, đồng thời tạo việc làm cho 6 lao động. Từ một hộ nghèo, gia đình anh Mười đã vươn lên trở thành hộ khá trong thôn.

Tại xã Hồi Xuân, phát triển kinh tế đồi rừng kết hợp chăn nuôi được xác định là hướng đi quan trọng để tạo thêm thu nhập cho người dân. Địa phương chú trọng tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, phát triển du lịch cộng đồng; hỗ trợ người dân tiếp cận vốn, xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp, đồng thời quan tâm thu hút doanh nghiệp chế biến lâm sản để tạo thêm việc làm tại chỗ. Đến cuối năm 2025, số hộ nghèo tại Hồi Xuân giảm còn 43 hộ, chiếm 1,75%; thu nhập bình quân đầu người đạt 48,26 triệu đồng.

Mô hình nuôi dê của ông Phạm Bá Toàn ở bản Chiềng, xã Mường Mìn với quy mô trên 30 con. Ảnh: Đình Minh
Mô hình nuôi dê của ông Phạm Bá Toàn ở bản Chiềng, xã Mường Mìn với quy mô trên 30 con. Ảnh: Đình Minh

Ở xã Xuân Thái, hướng phát triển kinh tế cũng được xác định từ chính lợi thế của địa phương. Xã tập trung rà soát diện tích, cây trồng, vật nuôi để xây dựng phương án sản xuất phù hợp; nâng cao hiệu quả chăn nuôi theo hướng an toàn, bền vững và phát triển những vật nuôi có lợi thế như lợn cỏ, lợn rừng lai, gà ri, dê, hươu lấy nhung, dúi, ong mật. Các mô hình cộng đồng tự quản, tổ nhóm, hợp tác xã giúp nhau phát triển kinh tế cũng từng bước hình thành, tạo thêm động lực cho người dân.

Một trong những hướng đi quan trọng của xã Thượng Ninh trong giảm nghèo là tuyên truyền vận động người dân áp dụng khoa học - kỹ thuật, đưa cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Ông Lê Công Hội, trú thôn Cát Xuân cho biết: Năm 2023, ông tham gia lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi ong, sau đó đầu tư nuôi ong mật. Từ những đàn ong ban đầu, ông Hội đã nhân đàn, kết hợp với đào ao thả cá, trồng keo, mắc ca trên diện tích 4,8ha. Từ mô hình chăn nuôi - trồng trọt này, gia đình có nguồn thu gần 300 triệu đồng/năm.

Mô hình nuôi ong lấy mật kết hợp đào ao thả cá, trồng rừng của ông Hội cho thu nhập gần 300 triệu đồng/năm. Ảnh: Minh Khanh
Mô hình nuôi ong lấy mật kết hợp đào ao thả cá, trồng rừng của ông Hội cho thu nhập gần 300 triệu đồng/năm. Ảnh: Minh Khanh

Từ Luận Thành, Hồi Xuân đến Xuân Thái, Thượng Ninh, điểm chung trong cách làm là không áp dụng một "công thức" giảm nghèo giống nhau cho mọi địa bàn. Mỗi nơi dựa vào lợi thế về đất đai, khí hậu, rừng, cây trồng, vật nuôi hay du lịch để lựa chọn hướng phát triển phù hợp. Đó cũng là cách để chính sách giảm nghèo đi vào thực chất hơn. Bởi một mô hình chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể tiếp tục duy trì, mở rộng sinh kế sau khi nguồn hỗ trợ ban đầu kết thúc. Với những hộ có đất sản xuất, sinh kế có thể bắt đầu từ cây trồng, vật nuôi phù hợp. Nhưng với những gia đình ít đất hoặc không có điều kiện đầu tư sản xuất, việc làm ổn định lại là một "chiếc cần câu" khác để nâng cao thu nhập.

Mô hình trồng cam ở bản Hậu, xã biên giới Tam Lư. Ảnh: Phương Nguyên
Mô hình trồng cam ở bản Hậu, xã biên giới Tam Lư. Ảnh: Phương Nguyên

Từ sinh kế đến việc làm, mở thêm cánh cửa thoát nghèo

Ở xã Quan Sơn, công tác giảm nghèo được gắn với tư vấn hướng nghiệp, đào tạo nghề và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Bên cạnh rà soát, phân loại hộ nghèo, cận nghèo, địa phương chú trọng định hướng học nghề tại chỗ và tại các trường trung cấp nghề; tổ chức tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để giúp người dân nâng cao năng lực sản xuất. Cùng với đó, xã tìm cách thu hút doanh nghiệp vào phát triển sản xuất, kết nối với những doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động để mở rộng cơ hội việc làm cho người dân. Cách tiếp cận này phản ánh một hướng đi ngày càng rõ trong công tác giảm nghèo ở vùng cao Thanh Hóa, đó là không chỉ giúp người dân có tư liệu sản xuất mà còn trang bị kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận thị trường lao động.

Hội nghị tư vấn việc làm, hướng nghiệp và xuất khẩu lao động cho người dân xã Trung Lý được tổ chức ngày 30/6. Ảnh: Đình Minh
Hội nghị tư vấn việc làm, hướng nghiệp và xuất khẩu lao động cho người dân xã Trung Lý được tổ chức ngày 30/6. Ảnh: Đình Minh

Theo báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, từ năm 2021 đến nay, Thanh Hóa đã triển khai trên 950 mô hình, dự án giảm nghèo hỗ trợ phát triển sản xuất; trên 80% người có khả năng lao động, có nhu cầu thuộc hộ nghèo tại các huyện nghèo cũ, xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Trong giai đoạn 2021-2025, Thanh Hóa đã xây dựng cơ sở dữ liệu về việc tìm người và người tìm việc, thu thập, cập nhật thông tin của 2.618 đơn vị sử dụng lao động có nhu cầu tuyển dụng; khảo sát, thu thập thông tin việc làm của 1.117.973 người lao động.

Từ năm 2022 đến nay, tỉnh tổ chức 16 phiên giao dịch việc làm, ngày hội việc làm và 55 hội nghị tuyên truyền, tư vấn, giới thiệu việc làm, với sự tham gia của 391 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh và đào tạo. Qua đó, 18.193 người lao động được tư vấn, định hướng nghề nghiệp, cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ tìm việc; 2.687 lao động được kết nối việc làm thành công, trong đó có 691 lao động thuộc các huyện nghèo. Những con số này cho thấy giảm nghèo đang được tiếp cận từ một hướng căn cơ hơn. Thay vì chỉ hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trước mắt, chính sách hướng tới giúp họ có khả năng tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp và tạo ra thu nhập ổn định bằng chính sức lao động của mình.

Ngôi nhà khang trang của anh Lang Văn Yên ở xã Thanh Phong có được nhờ việc đi XKLĐ tại Đài Loan. Ảnh: Thanh Phon
Ngôi nhà khang trang của anh Lang Văn Yên ở xã Thanh Phong có được nhờ việc đi XKLĐ tại Đài Loan. Ảnh: Thanh Phon

Đối với vùng cao, nơi cơ hội việc làm tại chỗ còn hạn chế, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng được xác định là một hướng mở. Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh triển khai các hoạt động hỗ trợ đào tạo ngoại ngữ, chi phí đào tạo nghề, khám sức khỏe, làm hộ chiếu, lý lịch tư pháp và lệ phí cấp visa. Chương trình đã hỗ trợ đào tạo ngoại ngữ cho 54 người, hỗ trợ trực tiếp các khoản chi phí liên quan cho 277 người; đồng thời tổ chức tư vấn cho khoảng 11.000 người lao động và thân nhân người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài. Với người dân vùng khó khăn, một cơ hội việc làm ở thị trường rộng hơn không chỉ giúp cải thiện thu nhập trước mắt mà còn có thể tạo điều kiện tích lũy vốn, kinh nghiệm, mở ra những lựa chọn mới cho gia đình sau này.

Để người dân có thể nắm bắt những cơ hội đó, đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp cũng được Thanh Hóa xác định là một phần quan trọng trong chiến lược giảm nghèo. Từ nguồn lực của chương trình mục tiêu quốc gia, tỉnh đã phân bổ vốn đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện đào tạo cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cấp phòng học, nhà xưởng, trang thiết bị và từng bước đáp ứng nhu cầu học nghề. Cùng với đó, tỉnh chú trọng lồng ghép, huy động nhiều nguồn lực để các chính sách hỗ trợ tạo thành một chuỗi liên kết từ sản xuất đến việc làm. Tại các xã vùng cao biên giới, bên cạnh nguồn vốn đầu tư của Trung ương, nguồn lực được kết hợp từ các dự án đa dạng hóa sinh kế, phát triển mô hình giảm nghèo, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, giáo dục nghề nghiệp và việc làm bền vững; đồng thời huy động doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị.

Cán bộ xã Tân Thành nắm bắt tình hình các gia đình có con em đi XKLĐ. Ảnh: Phương Nguyên
Cán bộ xã Tân Thành nắm bắt tình hình các gia đình có con em đi XKLĐ. Ảnh: Phương Nguyên

 

Đình Minh