Tuyên Quang: Khi di sản văn hóa đặc sắc trở thành nguồn lực phát triển bền vững
Mỗi điệu Then, tiếng đàn tính của người Tày, tiếng khèn Mông vang vọng giữa núi rừng, sắc đỏ rực rỡ trên trang phục Pà Thẻn hay những làn điệu Sình ca mượt mà của người Cao Lan… không chỉ là ký ức văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ mà đang trở thành mạch nguồn nội sinh quý giá, từng bước biến những giá trị truyền thống thành động lực phát triển bền vững, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.
Từ những hạt nhân văn hóa ở cơ sở
Sau khi sáp nhập, tỉnh Tuyên Quang có 124 xã, phường, quy mô dân số gần 1,87 triệu người, là nơi hội tụ của 46 dân tộc cùng sinh sống. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 72% dân số, với các cộng đồng Tày, Dao, Mông, Pà Thẻn, Cao Lan… đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng, giàu bản sắc và mang đậm dấu ấn vùng cao biên ải.
Chính sự đa dạng ấy đã trở thành nền tảng để Tuyên Quang xác định một hướng đi xuyên suốt: bảo tồn văn hóa không chỉ để gìn giữ di sản mà còn để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh đã trở thành một trong những "hạt nhân" quan trọng đưa văn hóa truyền thống trở lại với đời sống cộng đồng. Riêng năm 2025, đơn vị duy trì 14 câu lạc bộ với 1.272 buổi sinh hoạt, đồng thời mở nhiều lớp truyền dạy hát Then, đàn tính và thổi, múa khèn Mông tại xã Sà Phìn. Sáu tháng đầu năm 2026, dòng chảy ấy tiếp tục được nối dài với 26 buổi hướng dẫn nghiệp vụ tại các xã Quản Bạ, Hồng Thái; phối hợp với Trường Đại học Tân Trào tổ chức tập huấn biên đạo múa cho 121 học viên. Từ những lớp học ở cơ sở, nhiều hạt nhân văn nghệ quần chúng đã trưởng thành, tự tin bước lên các sân khấu lớn, mang theo niềm tự hào về bản sắc quê hương.
Thành quả ấy được khẳng định tại Hội diễn "Đàn, hát dân ca ba miền" năm 2026 tổ chức ở thành phố Huế, khi đoàn nghệ thuật quần chúng tỉnh Tuyên Quang xuất sắc giành 1 Huy chương Vàng và 3 Huy chương Bạc. Đó không chỉ là kết quả của một hội diễn mà còn là minh chứng cho quá trình bền bỉ đưa văn hóa trở về với cộng đồng, để mỗi nghệ nhân, mỗi câu lạc bộ thực sự trở thành một "địa chỉ gìn giữ" phát huy bản sắc ngay từ cơ sở.

Khèn Mông – âm thanh của núi rừng
Trong kho tàng văn hóa các dân tộc ở Tuyên Quang, văn hóa Mông luôn để lại dấu ấn đặc biệt bởi sự hòa quyện giữa âm nhạc, trang phục và đời sống tinh thần. Bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mông với những gam màu rực rỡ và hoa văn tinh xảo vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Dù chất liệu vải đã có những thay đổi để phù hợp với đời sống hiện đại, nhưng kỹ thuật thêu, phối màu và tạo họa tiết vẫn được lưu truyền gần như nguyên vẹn. Chính sự bền bỉ ấy đã giúp trang phục Mông không chỉ hiện diện trong đời sống thường nhật mà còn trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và du lịch.
Nếu trang phục là vẻ đẹp hữu hình thì chiếc khèn Mông chính là "ngôn ngữ của tâm hồn". Tiếng khèn theo người Mông từ những phiên chợ vùng cao, lễ hội mùa xuân đến các nghi lễ vòng đời, trở thành sợi dây kết nối cộng đồng và lưu giữ ký ức văn hóa của cả một tộc người. Âm thanh khi khoan thai, sâu lắng; khi mạnh mẽ, rộn ràng, phản ánh tinh thần lạc quan, ý chí vượt khó và khát vọng gắn bó với núi rừng của đồng bào.
Để di sản ấy không bị mai một, Tuyên Quang triển khai đồng thời hai hướng bảo tồn. Một mặt, tỉnh tiến hành tư liệu hóa, lưu giữ hiện vật tại Bảo tàng và Thư viện tỉnh; mặt khác, chú trọng "bảo tồn sống" thông qua việc khôi phục các lễ hội truyền thống như Lễ hội Gầu Tào, Lễ Nào Sồng, gắn với các hội thi múa khèn, hát đối đáp của nam nữ thanh niên. Khi di sản vẫn hiện diện trong đời sống cộng đồng, văn hóa sẽ không chỉ được lưu giữ mà còn tiếp tục sinh sôi, lan tỏa.

Sắc đỏ của niềm tin và khát vọng
Là một trong 16 dân tộc có quy mô dân số dưới 10 nghìn người của Việt Nam, cộng đồng Pà Thẻn tại Tuyên Quang hiện có trên 8 nghìn nhân khẩu, sinh sống chủ yếu tại các xã Tri Phú và Minh Quang.
Điểm nổi bật trong văn hóa Pà Thẻn là sắc đỏ rực rỡ trên bộ trang phục truyền thống, biểu tượng của sức sống, niềm tin và khát vọng trường tồn. Để hoàn thiện một bộ váy áo, người phụ nữ Pà Thẻn phải dành khoảng ba tháng dệt vải, nhuộm màu và thêu từng họa tiết. Những đường kim, mũi chỉ không chỉ tạo nên vẻ đẹp của trang phục mà còn lưu giữ ký ức văn hóa, phản ánh sự khéo léo và phẩm chất của người phụ nữ trong cộng đồng.
Đặc sắc hơn cả là Lễ hội Nhảy lửa, nghi lễ mang đậm giá trị tâm linh và bản sắc riêng của người Pà Thẻn. Với giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học độc đáo, lễ hội đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, góp phần nâng cao ý thức gìn giữ di sản trong cộng đồng và mở ra cơ hội để văn hóa Pà Thẻn trở thành điểm nhấn của du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng.

Sình ca Cao Lan – Gieo mạch nguồn văn hóa cho hôm nay và mai sauNếu tiếng khèn Mông là thanh âm của núi rừng, thì Sình ca lại là "mạch nguồn" nuôi dưỡng đời sống tinh thần của đồng bào Cao Lan. Trải qua bao thế hệ, những làn điệu mượt mà ấy vẫn được cất lên trong mỗi mùa xuân, mỗi lễ hội và trong nhịp sống thường ngày, trở thành sợi dây kết nối cộng đồng với cội nguồn văn hóa dân tộc.
Theo truyền thuyết về nàng Lưu Ba, người được tôn vinh là bà chúa dân ca của dân tộc Cao Lan, Sình ca là loại hình hát giao duyên mang đậm chất trữ tình. Trước đây, lời ca được ghi bằng chữ Hán cổ theo thể thất ngôn tứ tuyệt; ngày nay, nhiều làn điệu đã được chuyển thể sang lục bát để phù hợp với đời sống đương đại, giúp lớp trẻ dễ học, dễ hát nhưng vẫn giữ được tinh thần và giá trị nguyên bản.
Sình ca được chia thành hai không gian diễn xướng đặc trưng. Ban ngày, tiếng hát ngân vang trong các lễ hội truyền thống tại đình làng, nhà văn hóa với các chặng hát gọi, hát dạo đầu, hát thề ước. Khi màn đêm buông xuống, bên bếp lửa nhà sàn, những cuộc hát đối đáp tiếp tục diễn ra, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần lưu giữ tiếng nói, phong tục và tri thức dân gian của cộng đồng Cao Lan.

Tại xã Đại Phú, nhiều thế hệ nghệ nhân vẫn lặng thầm gìn giữ "kho báu" văn hóa dân tộc. Tiêu biểu là Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn và con trai Nghệ nhân Sầm Anh Đạo, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cao Lan. Không chỉ gìn giữ hàng trăm cuốn sách cổ, nhạc cụ truyền thống và những làn điệu Sình ca quý giá, các nghệ nhân còn kiên trì truyền dạy cho thế hệ trẻ, góp phần đưa phong trào văn hóa quần chúng của địa phương gặt hái nhiều Huy chương Vàng, Huy chương Bạc tại các liên hoan nghệ thuật toàn quốc.
Để di sản trở thành động lực phát triển, Ông Ma Anh Dũng - Trưởng phòng Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang cho biết: "Bảo tồn văn hóa không đơn thuần là lưu giữ một bộ trang phục, một nhạc cụ hay một nghi lễ cổ truyền. Điều quan trọng hơn là giữ gìn hệ giá trị, nếp sống và niềm tự hào của mỗi dân tộc. Khi bản sắc được phát huy đúng hướng, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo sinh kế cho người dân thông qua phát triển du lịch, đồng thời góp phần từng bước xóa bỏ các hủ tục, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào".
Quan điểm ấy cũng chính là tinh thần xuyên suốt của các Chương trình mục tiêu quốc gia đang được triển khai trên địa bàn tỉnh. Nguồn lực đầu tư của Nhà nước không chỉ hướng đến xây dựng hạ tầng hay hỗ trợ sinh kế mà còn tạo điều kiện để các cộng đồng dân tộc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng nền tảng phát triển bền vững từ chính nội lực của người dân.