Tuyên Quang: Nâng tầm, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tuyên Quang đang chuyển mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, doanh nghiệp và lợi thế từng địa bàn; đồng thời nâng cao năng lực số cho đồng bào dân tộc thiểu số đang được xác định là những “chìa khóa” quan trọng để giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và tạo nền tảng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguồn lực con người – nền tảng của phát triển bền vững
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi biên giới, với dân số gần 1,8 triệu người; 124 xã phường và có trên 73% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS). Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 72% trở lên, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt từ 30% trở lên; mỗi năm đào tạo nghề cho hơn 13.000 người, với lao động nông thôn chiếm tối thiểu 80%. Lộ trình này được đặt trong chiến lược tổng thể với Chương trình hành động số 39-CTr/TU về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn và Kế hoạch số 160-KH/TU ngày 7/7/2026 về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao.
Từ đây, tư duy đào tạo nghề đang được chuyển từ hỗ trợ tạo việc làm đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái tạo việc làm bền vững. Năm 2026, toàn tỉnh đặt mục tiêu tuyển sinh 10.806 người ở các trình độ; trong đó 2.095 người học cao đẳng, trung cấp và 8.711 lao động nông thôn được đào tạo theo phương thức sơ cấp hoặc dưới 3 tháng theo cơ chế đặt hàng.

Với vùng đồng bào DTTS, nghề được lựa chọn theo điều kiện và lợi thế từng địa bàn: trồng, chế biến chè; trồng dược liệu; chăn nuôi gia súc; dệt thổ cẩm; phát triển sản phẩm OCOP; du lịch cộng đồng cùng các kỹ năng dịch vụ nhà hàng, khách sạn. Việc tổ chức các lớp học ngay tại xã, thôn, bản giúp kiến thức không nằm trên lớp học mà được đưa vào chính ruộng nương, khu rừng và sinh kế của người dân.
Mô hình liên kết “Nhà trường - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông” cũng được thúc đẩy. Từ tuyển sinh, xây dựng chương trình, thực hành đến bao tiêu sản phẩm và tuyển dụng sau đào tạo, sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác xã đang làm cho đào tạo nghề gắn hơn với thị trường. Tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 85% lao động sau đào tạo nghề nông nghiệp có việc làm hoặc tự tạo việc làm ổn định; tối thiểu 30% tham gia các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã.
Năng lực số mở thêm cánh cửa thoát nghèo
Nếu đào tạo nghề tạo “cần câu” thì năng lực số đang mở thêm một không gian mới để người dân vùng cao tiếp cận thị trường, tri thức và dịch vụ. Thực tế cho thấy, dù hạ tầng viễn thông đã được phủ rộng, khoảng cách số giữa đô thị và miền núi vẫn hiện hữu, nhất là với hộ nghèo, người cao tuổi và phụ nữ DTTS. Hạn chế về thiết bị và kỹ năng khiến việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến, giao dịch điện tử hay quảng bá sản phẩm trên môi trường số chưa tương xứng với tiềm năng.
Tuyên Quang đang hướng tới lấy người dân làm trung tâm của chuyển đổi số, phát huy vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng, trong đó đoàn viên thanh niên, giáo viên cơ sở và người có uy tín là những “hạt nhân số”. Cách làm đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, tìm kiếm thông tin thị trường lao động, tiếp cận sàn tuyển dụng trực tuyến, sử dụng dịch vụ công và nhận diện nguy cơ lừa đảo trên mạng là hướng tiếp cận gần dân, thiết thực, hiệu quả.

Đáng chú ý, vấn đề rào cản ngôn ngữ cũng được nhìn nhận như một điểm nghẽn cần tháo gỡ. Các chuyên gia Trường Đại học Tân Trào đã đề xuất xây dựng ứng dụng dịch Mông - Việt hai chiều, hỗ trợ tới 5 phương ngữ. Nếu được nghiên cứu, hoàn thiện và ứng dụng hiệu quả, giải pháp này có thể giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận tốt hơn tri thức, dịch vụ công trực tuyến và các tài liệu học tập để nâng cao tri thức.
Ông Ma Quang Hiếu, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang, nhấn mạnh: Phát triển KT – XH vùng đồng bào DTTS muốn bền vững phải bắt đầu từ chính năng lực của người dân. Đào tạo nghề cần sát với nhu cầu sản xuất và lợi thế địa phương; chuyển đổi số phải đi vào những việc cụ thể nhất của đời sống, để người dân có thêm công cụ tìm việc, bán sản phẩm, tiếp cận chính sách và mở rộng cơ hội phát triển. Khi người dân có kiến thức, có kỹ năng và biết khai thác công nghệ, nguồn lực của các Chương trình mục tiêu quốc gia hay xã hội hóa, đó mới thực sự chuyển hóa thành năng lực nội sinh bền vững của cộng đồng.
Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo nền tảng cho nguồn nhân lực chất lượng cao
Cùng với đào tạo nghề và nâng năng lực số, Tuyên Quang đang đặt yêu cầu củng cố hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đầu tư thiết bị, nâng chất lượng đội ngũ và thu hút nhân lực trình độ cao. Trường Đại học Tân Trào hiện có 1 PGS.TS, 48 tiến sĩ và 100% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên, với quy mô hơn 4.300 sinh viên, học viên. Quy mô tuyển sinh đại học chính quy tăng 2,5 lần so với năm 2020,…
Thực tế, bài toán nhân lực vẫn còn những nút thắt: thiếu giáo viên so với định mức; cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu ở một số nơi còn hạn chế; giảng viên trình độ cao có biến động; chính sách thu hút nhân tài chưa đủ sức cạnh tranh. Đây là những vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn để có giải pháp căn cơ.

Kế hoạch số 160-KH/TU đặt ra những mục tiêu dài hạn nhằm tạo thêm động lực cho hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu tăng thêm ít nhất 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tầm nhìn đến năm 2045 tăng tối thiểu 100 doanh nghiệp so với năm 2026. Cùng với đó, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý được bồi dưỡng kỹ năng số, tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính và thu hút nguồn lực xã hội hóa.
Theo ông Nguyễn Văn Hiến, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, từ đầu năm đến nay, chuyển đổi số của tỉnh tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh đã hoàn thành 180/298 nhiệm vụ do Trung ương giao; xử lý hơn 102.000 văn bản điện tử thông qua 25.600 tài khoản quản lý, điều hành và cấp 58.488 chữ ký số chuyên dùng. Gần 4.700 lượt cán bộ và thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng được tập huấn, nâng cao kỹ năng. Hạ tầng số tiếp tục được mở rộng với gần 600 trạm phát sóng 5G, bảo đảm khoảng 96% dân số được tiếp cận Internet tốc độ cao.
Để chính sách “đến được” từng bản làng

Từ chính sách căn cơ, nguồn lực được đầu tư trọng điểm, quan trọng hơn là tạo được sức bật nội sinh của người dân. Khi người dân vùng cao có nghề, có kỹ năng số, biết tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường và chủ động ứng dụng khoa học công nghệ, những nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, xã hội hóa sẽ không chỉ tạo ra kết quả trước mắt mà còn hình thành nền tảng phát triển lâu dài.
Đó cũng chính là hướng đi để Tuyên Quang tiếp tục xây dựng nông thôn mới theo chiều sâu, giảm nghèo bền vững và phát huy tốt nhất giá trị, tiềm năng lợi thế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.