Báo Đại Đoàn Kết Chính trị

Xây dựng khối đại đoàn kết từ nền móng “lấy dân làm gốc”

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Xây dựng khối đại đoàn kết từ nền móng “lấy dân làm gốc”

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nguyên lý “dân là gốc” đã được đưa ở một tầm cao mới tại Đại hội XIV là minh chứng cho sự vận động không ngừng của một dân tộc xây dựng khối đại đoàn kết từ nền móng “lấy dân làm gốc”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chụp ảnh cùng Đoàn đại biểu Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương dự Đại hội XIV của Đảng.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chụp ảnh cùng Đoàn đại biểu Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương dự Đại hội XIV của Đảng.

Quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy

Ngay từ khi mới ra đời vào năm 1930, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hội Phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam ra đời ngày 18/11/1930 - ngay sau khi Đảng thành lập đã xác định công nông là động lực chính nhưng cần tổ chức toàn dân thành lực lượng rộng lớn để cách mạng thành công.

Trong các giai đoạn tiếp theo của cách mạng Việt Nam, do yêu cầu đòi hỏi thực tế của nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ, Đảng ta tiếp tục sáng lập các hình thức tổ chức Mặt trận như: Phản đế Liên minh (3/1935), Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế (10/1936), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (6/1938), Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương (11/1939)  tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.

Đến Hội nghị Trung ương 8 (1941), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tư duy về đại đoàn kết đã đạt tới tầm cao mới khi đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, trước hết. Văn kiện nhấn mạnh: “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Mọi sự khác biệt về giai cấp, tôn giáo đều gác lại phía sau để phục vụ mục tiêu cứu nước. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là biểu tượng rực rỡ nhất cho việc quy tụ mọi tầng lớp nhân dân dưới lá cờ đỏ sao vàng. Chính sức mạnh này đã làm nên thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sức mạnh giải phóng dân tộc

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đường lối đại đoàn kết của Đảng ta tiếp tục được nâng tầm. Sự ra đời của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam năm 1946 là một sự sáng tạo đúng đắn, kịp thời để tập hợp và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh “thù trong giặc ngoài”.

Đại hội II (2/1951), Đảng ra công khai hoạt động trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở hợp nhất giữa Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt đã cụ thể hóa tư duy đoàn kết toàn dân để kháng chiến, gắn kết chặt chẽ khối liên minh công - nông - trí thức tạo nền tảng vững chắc để huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Đến Đại hội III (1960), trong bối cảnh đất nước chia cắt, Đảng đề ra chiến lược đoàn kết tại hai miền: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở miền Bắc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ở miền Nam. Khối đại đoàn kết lúc này không chỉ là lực lượng chính trị mà còn là sức mạnh tinh thần thôi thúc khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Khi “dân là gốc” trở thành kim chỉ nam

Sau đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, sự nghiệp cách mạng chuyển sang giai đoạn mới. Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất họp năm 1977 tại TP Hồ Chí Minh đã quyết định hợp nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền thành Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam.

Đến Đại hội VI của Đảng (1986) “Đại hội của Đổi mới” tư duy về đại đoàn kết mới thực sự có bước chuyển mình mạnh mẽ. Đảng khẳng định: “Lấy dân làm gốc” là bài học kinh nghiệm hàng đầu. Khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ra đời từ đây, biến người dân từ đối tượng vận động trở thành chủ thể trực tiếp của công cuộc đổi mới.

Văn kiện khẳng định sức mạnh của Đảng nằm trong mối quan hệ gắn bó với nhân dân. Đại đoàn kết lúc này không chỉ là tập hợp lực lượng mà còn là phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Tiếp nối tinh thần đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (1991) khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở nước ta”. Nghị quyết số 07-NQ/TW (1993) là văn kiện chuyên đề quan trọng về đại đoàn kết, đặt nền móng cho việc xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, hướng tới tương lai.

Đại hội IX (2001) và X (2006), lần đầu tiên Đảng khẳng định mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là điểm tương đồng giữa các tầng lớp nhân dân. Đại hội X bổ sung: Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, không phải riêng của một giai cấp nào. Đại hội XI (2011) và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nâng tầm quan điểm: “Các chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Đoàn kết không còn là lời kêu gọi một chiều, mà là sự hài hòa về lợi ích.

Khát vọng phồn vinh và sức mạnh nội sinh

Trong những nhiệm kỳ gần đây, đặc biệt là Đại hội XII và XIII, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững. Đại hội XII (2016) của Đảng nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng các cơ chế để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Đại hội XIII (2021) mang lại tư duy đột phá khi Đảng bổ sung thành tố “Dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là bước tiến quan trọng, khẳng định người dân không chỉ là tạo ra sức mạnh, thành quả lao động mà còn là đối tượng thụ hưởng thành quả của sự đoàn kết đó. Đại đoàn kết toàn dân tộc được gắn liền với “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đại đoàn kết không chỉ là tập hợp lực lượng mà còn là khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc. Khẳng định đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là điều kiện tiên quyết để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là nòng cốt trong việc lắng nghe, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là “cầu nối” tin cậy giữa Đảng và quần chúng.

Đại đoàn kết trong “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”

Bước vào kỷ nguyên mới “kỷ nguyên đột phá về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển xanh” Đảng ta xác định mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập Nước (2045).

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, Đại hội XIV của Đảng đã nâng quan điểm này lên một tầm cao mới. Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu cao nhất. Để thực hiện điều này, các cơ chế chính sách cần được hoàn thiện nhằm phát huy hiệu quả quyền làm chủ thực chất theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đồng thời nêu cao trách nhiệm giải trình của hệ thống chính trị và giữ vững kỷ cương, trật tự xã hội. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng vững chắc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp nông dân văn minh và đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nước. Trong đó, mọi tầng lớp xã hội từ doanh nhân, phụ nữ, thế hệ trẻ đến người cao tuổi, cựu chiến binh đều được tạo điều kiện để phát huy tiềm năng và khát vọng cống hiến. Bên cạnh đó, các chính sách về bình đẳng dân tộc, tự do tín ngưỡng và gắn kết kiều bào cũng được đẩy mạnh nhằm tạo sự đồng thuận, hài hòa lợi ích. Với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được triển khai xuyên suốt đến năm 2045, nhằm tập hợp mọi nguồn lực sáng tạo để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Trải qua gần một thế kỷ, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng đã phát triển từ một phương châm tập hợp lực lượng vẫn còn nguyên giá trị thời đại, trở thành một triết lý phát triển bền vững.

Với khí thế và tinh thần của Đại hội XIV, với niềm tin mới và vận hội mới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, sẽ tiếp tục là động lực vĩ đại. Sức mạnh ấy sẽ đưa con tàu Việt Nam rẽ sóng vươn ra biển lớn, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thu Hoàn