Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt từ sản xuất phát thải thấp, minh bạch nguồn gốc

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt từ sản xuất phát thải thấp, minh bạch nguồn gốc

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nông sản Việt đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường, nhưng để đi xa và giữ được thị trường, lợi thế về sản lượng và giá thành chưa đủ. Sản xuất phát thải thấp, chất lượng ổn định và minh bạch nguồn gốc đang trở thành những nền tảng quan trọng để nâng giá trị, củng cố niềm tin và từng bước xây dựng thương hiệu nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

“Xanh” trở thành điều kiện tiếp cận thị trường

8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, rau quả đạt 6,02 tỷ USD, tăng 24,9%; cà phê đạt khoảng 6 tỷ USD. Đáng chú ý, dù lượng cà phê xuất khẩu tăng 13,1%, giá trị lại giảm 9,1%.

Những con số này cho thấy một thực tế sản lượng không còn là yếu tố duy nhất quyết định sức cạnh tranh của nông sản Việt.  Khi nguồn cung tăng, thị trường ngày càng phân hóa và các tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng khắt khe, giá trị của sản phẩm sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, tính minh bạch và câu chuyện thương hiệu.

Bảo đảm chuỗi cung ứng bền vững "từ hạt giống đến bàn ăn" là chìa khóa để tiếp cận thị trường lớn một cách lâu dài. Ảnh: Minh họa.
Bảo đảm chuỗi cung ứng bền vững "từ hạt giống đến bàn ăn" là chìa khóa để tiếp cận thị trường lớn một cách lâu dài. Ảnh: Minh họa.

Theo đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương, xuất khẩu nông sản ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và cân bằng cán cân thương mại.Đáng chú ý, giai đoạn 2022-2025, trong khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nói chung đạt khoảng 9%/năm thì xuất khẩu nhóm nông sản tăng tới 15-16%/năm. Đây là kết quả của quá trình cải thiện tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường quốc tế.

Một trong những lợi thế nổi bật của ngành nông nghiệp Việt Nam là khả năng sản xuất đa dạng các mặt hàng từ lương thực, trái cây, rau quả đến chăn nuôi. Ông Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Rau quả, Nông sản Việt Nam (Vegetexco Vietnam), phân tích: Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng thuận lợi. Đây là cơ sở để ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển, đồng thời mở ra cơ hội thu hút doanh nghiệp (DN) trong nước và quốc tế đầu tư, tạo dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp có sức cạnh tranh cao.

Riêng lĩnh vực cây ăn trái, Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu ha, sản lượng lên tới 13 triệu tấn/năm. Các sản phẩm trái cây có giá trị dinh dưỡng và hương vị đặc trưng, đã được xuất khẩu tới hơn 60 quốc gia, trong đó có những thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,… Việt Nam cũng là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo, hạt điều, hồ tiêu, cà phê hàng đầu thế giới, với sản phẩm được đưa tới hơn 150 quốc gia, trong đó có nhiều thị trường yêu cầu tiêu chuẩn cao.

Thị trường rộng mở cũng đồng nghĩa với cuộc cạnh tranh ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn, chất lượng và phát triển bền vững, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất và thương mại. Theo Bộ Công Thương, các thị trường lớn như châu Âu, Hoa Kỳ đang liên tục nâng cao tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật (SPS), truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững.

Những quy định như Quy định chống phá rừng (EUDR), Cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM) hay các yêu cầu liên quan chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đang tạo thêm sức ép đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Thực tế này cho thấy yêu cầu phát triển bền vững không còn là câu chuyện mang tính lựa chọn mà đã trở thành điều kiện để duy trì thị trường.

Từ góc độ DN trong nước, đại diện Tổng công ty Rau quả, nông sản Vegetexco thừa nhận những thách thức từ thị trường quốc tế hiện nay là rất lớn. Tuy nhiên, đại diện DN này cũng nhìn nhận đây chính là động lực mạnh mẽ buộc các DN phải đổi mới tư duy, tái cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng và phát triển bền vững hơn.

Từ góc độ đơn vị phân phối nông sản Việt Nam tại Hà Lan và châu Âu, ông Sven Dekker - đại diện công ty Food Europe BV Hà Lan cho biết, người dân EU đã chuyển hướng lựa chọn các mặt hàng thực phẩm sạch, tiện lợi và rõ nguồn gốc. Trong bối cảnh sản xuất nông sản Việt Nam đang dịch chuyển mô hình sản xuất, chú trọng chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thì châu Âu tiếp tục là thị trường tiềm năng.

Minh bạch để xây dựng thương hiệu cho sản phẩm

Không chỉ với xuất khẩu mà ngay tại thị trường trong nước tiêu dùng xanh đang dần trở thành động lực mới của thị trường nội địa khi người tiêu dùng không còn chỉ quan tâm đến giá cả mà ngày càng coi trọng nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm và trách nhiệm môi trường của DN.

Khi mỗi sản phẩm có một “lý lịch điện tử” rõ ràng, từ nơi sản xuất, giống, vật tư, quy trình chăm sóc đến sơ chế, đóng gói và phân phối, nông sản Việt sẽ không chỉ bán được sản phẩm mà còn bán được niềm tin. Ảnh: HNM
Khi mỗi sản phẩm có một “lý lịch điện tử” rõ ràng, từ nơi sản xuất, giống, vật tư, quy trình chăm sóc đến sơ chế, đóng gói và phân phối, nông sản Việt sẽ không chỉ bán được sản phẩm mà còn bán được niềm tin. Ảnh: HNM

Tuy nhiên, để xu hướng này thực sự tạo ra sức lan tỏa, điều thị trường cần không phải là nhiều hơn những sản phẩm gắn nhãn "xanh" mà là những cam kết có thể kiểm chứng. Trong bối cảnh đó, minh bạch nguồn gốc không còn là yêu cầu mang tính thủ tục mà đang trở thành điều kiện để sản phẩm chinh phục thị trường.

Theo ông Trần Việt Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường (Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước- Bộ Công Thương), minh bạch không chỉ là câu chuyện phân biệt hàng thật với hàng giả mà là khả năng chứng minh toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ sản xuất, nhập khẩu đến phân phối và lưu thông. Đây cũng là yêu cầu ngày càng cấp thiết khi thương mại điện tử phát triển mạnh và người tiêu dùng khó có điều kiện tiếp cận trực tiếp với sản phẩm trước khi quyết định mua.

Thực tế kiểm tra thị trường cho thấy, từ năm 2022 đến hết tháng 5/2026, lực lượng quản lý thị trường đã thực hiện gần 7.000 cuộc kiểm tra đối với mặt hàng mỹ phẩm, xử lý hàng nghìn vụ việc vi phạm với tổng số tiền xử phạt khoảng 132,5 tỷ đồng.

Phần lớn các vi phạm không chỉ liên quan đến hàng giả, hàng nhập lậu mà còn xuất phát từ việc không chứng minh được nguồn gốc, hồ sơ công bố không đầy đủ hoặc ghi nhãn, quảng cáo không đúng quy định. Những con số này cho thấy minh bạch không còn là yêu cầu về thủ tục mà đã trở thành thước đo uy tín và năng lực quản trị của DN.

Hạ tầng dữ liệu – "xương sống" của thương hiệu nông sản

Việc Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026 đang mở ra một nền tảng quan trọng cho quá trình minh bạch hóa chuỗi nông sản.Theo báo cáo, kể từ thời điểm chính thức vận hành đến nay, đã có 9 DN cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc thực hiện kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Bên cạnh đó, 4 DNs ản xuất, thương mại nông sản gồm Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương đã kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc do DN tự phát triển với hệ thống của Bộ.

Có 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Tổng cộng, 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp đã thực hiện truy xuất nguồn gốcvà cập nhật dữ liệu vào Hệ thống truy xuất nguồn gốccủa Bộ.

Ở quy mô lũy kế, kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã có thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc gửi hồ sơ đăng ký kết nối. Các hồ sơ hiện đang được xem xét, phê duyệt để triển khai kết nối theo quy định.

Đồng thời, thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai truy xuất nguồn gốc  nông sản, nâng tổng số địa phương đã có báo cáo lên 24/34 tỉnh, thành phố.

Tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào hệ thống của Bộ đạt 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm, của 200 DN và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Tại Hà Nội, hệ thống truy xuất nguồn gốc của thành phố có trên 3.000 cơ sở và trên 12.000 sản phẩm. Trong số này, khoảng 5% sản phẩm đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối của Hệ thống truy xuất nguồn gốc Bộ.

Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thành việc tiếp nhận và quản trị hệ thống; kiểm kê đầy đủ mã nguồn, tài liệu, tài khoản, quyền quản trị và các thành phần kỹ thuật; đồng thời hoàn thiện quy trình vận hành, sao lưu, giám sát và xử lý sự cố.

Bộ cũng sẽ chuẩn hóa dữ liệu và kết nối, thống nhất bộ chỉ tiêu, nguồn số liệu, phương pháp tính; hoàn thiện chuẩn dữ liệu, API, quy trình kiểm thử, xác nhận kết nối và đối soát dữ liệu.

Cùng với đó, Bộ sẽ đẩy nhanh kết nối với các địa phương, ưu tiên những địa phương đã có dữ liệu, hệ thống và sản phẩm chủ lực; thực hiện nguyên tắc kế thừa hệ thống hiện có, dữ liệu tạo lập một lần được khai thác, sử dụng nhiều lần.

Thanh Bình