Du lịch và các di sản văn hóa

Thúy Hà (ghi)

Ngành du lịch Việt Nam bắt đầu những hoạt động trong trạng thái bình thường mới. Nhưng làm sao để thu hút du khách, và để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước? Đại Đoàn Kết Chủ nhật xin giới thiệu ý kiến của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Trùng Khánh về việc khai thác các di sản văn hóa để phát triển du lịch.

Du lịch và các di sản văn hóa
Di sản văn hóa mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều mang những dấu ấn đặc trưng riêng có, không trùng lặp, không sao chép rập khuôn. Trong ảnh, Tràng An (Ninh Bình) là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Với truyền thống văn hóa giàu có và đặc sắc, giá trị di sản văn hóa của Việt Nam luôn có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế bởi đặc trưng của nền văn hóa á Đông, những di tích, sự kiện ghi đậm dấu ấn trong lịch sử nhân loại, sự đa dạng trong phong tục tập quán, lối sống, ẩm thực, lễ hội. Trong ba năm liên tiếp (2019-2021), Việt Nam được tổ chức Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) bình chọn danh hiệu là “Điểm đến văn hóa hàng đầu Châu á”.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định, nhấn mạnh vai trò của văn hóa với phát triển du lịch. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn đã chỉ rõ trong quá trình phát triển du lịch phải chú trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng nhấn mạnh quan điểm “phát triển du lịch văn hóa, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc”, đồng thời “chú trọng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, lịch sử, truyền thống của dân tộc; tập trung khai thác thế mạnh ẩm thực đa dạng, đặc sắc của các vùng, miền để hình thành sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, có lợi thế cạnh tranh, góp phần tạo dựng thương hiệu nổi bật của du lịch Việt Nam”.

Di sản văn hóa - nguồn tài nguyên vô giá

Với du lịch, di sản văn hóa chính là một trong những tài nguyên vô giá, là dấu ấn ghi lại quá trình hình thành, phát triển của xã hội, thôi thúc con người gìn giữ và bảo tồn những giá trị ấy. Quá trình gìn giữ, bảo tồn không tách rời với việc đưa những giá trị vô giá đó đến gần hơn với những thế hệ trẻ, gần hơn với du khách và thế giới. Chính di sản văn hóa là nền tảng, là bàn đạp vững chắc để du lịch bước những bước xa hơn.

Di sản văn hóa là kết tinh tri thức của xã hội loài người qua các thế hệ. Với du lịch, di sản văn hóa cùng với thiên nhiên đã trở là hai nguồn tài nguyên cơ bản nhất để khai thác và phát triển. Chính vì thế, dựa vào “trụ cột” di sản văn hoá sẽ là nguồn lực không bao giờ cạn kiệt để phát triển du lịch.

Bên cạnh đi đó, di sản văn hóa là yếu tố xây dựng năng lực cạnh tranh của điểm đến. Di sản văn hóa mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều mang những dấu ấn đặc trưng riêng có, không trùng lặp, không sao chép rập khuôn. Chính vì thế, mỗi điểm đến sẽ là sự ghi nhận của những giá trị văn hóa đặc sắc riêng, mang sự hấp dẫn riêng đối với du khách, tạo nên những dấu ấn, những ưu thế riêng của địa phương/điểm đến. Phát huy được những ưu thế riêng này chính là đã góp phần củng cố năng lực cạnh tranh của điểm đến.

Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phong phú và đa dạng. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử với 54 dân tộc mang đậm đà bản sắc văn hóa. Hiện nay, Việt Nam có 8 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, trong đó có 5 di sản văn hóa; 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp thiên nhiên - văn hóa; 12 di sản văn hóa phi vật thể và 4 di sản tư liệu. Các Di sản thế giới được UNESCO công nhận đã tạo thay đổi diện mạo ngành du lịch của địa phương và nâng tầm vị thế cho du lịch di sản của Việt Nam trên bản đồ du lịch của thế giới.

Bên cạnh các di sản văn hóa được công nhận ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam cũng sở hữu một hệ thống đồ sộ các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ở cấp độ quốc gia hoặc địa phương, trải dài khắp đất nước.

Hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực đặc sắc của các vùng miền, của các dân tộc; các di sản văn hóa - nghệ thuật, văn nghệ dân gian, các bảo tàng lưu giữ các chứng minh giá trị di sản văn hóa dân tộc… Đây là những tài nguyên du lịch hết sức đặc sắc, mang tính đặc trưng văn hóa của Việt Nam, là nguồn lực quan trọng, tạo thế mạnh và sự khác biệt của du lịch Việt Nam.

Các di sản văn hóa là giá trị cốt lõi để phát triển du lịch

Trong giai đoạn 2015 - 2019 trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, du lịch Việt Nam đã đạt được những dấu mốc ấn tượng với mức tăng trưởng trung bình về lượt khách đạt 22,7%/năm và về doanh thu đạt 20,7%/năm. Riêng năm 2019, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 18 triệu lượt, tăng 16% so với năm 2018. Lượng khách du lịch nội địa đạt 85 triệu lượt khách. Tổng thu từ khách du lịch đạt 755 nghìn tỷ đồng, đóng góp 9,2% vào GDP của cả nước.

Du lịch văn hóa đã khẳng định vai trò quyết định trong việc tạo nên kết quả ấn tượng này. Các di sản văn hóa là giá trị cốt lõi để phát triển du lịch đặc trưng ở các vùng du lịch của Việt Nam. Các sản phẩm du lịch văn hóa nổi bật và hấp dẫn du khách trong thời gian qua như du lịch tham quan di sản, nghiên cứu văn hoá lịch sử thông qua di sản, các bảo tàng sống và các bảo tàng trưng bày, tìm hiểu và trải nghiệm văn hoá truyền thống, đời sống văn hóa cộng đồng du lịch Lễ hội, du lịch văn hóa ẩm thực, du lịch tâm linh…

Nhiều sản phẩm như tham quan di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế, phố cổ Hội An, di tích Thánh địa Mỹ Sơn, danh thắng Tràng An, tham gia các lễ hội truyền thống và đương đại như lễ hội Chùa Hương, lễ hội Yên Tử, lễ hội Bà Chúa Xứ, Festival Huế… đã nhận được sự quan tâm lớn của du khách và trở thành những sản phẩm du lịch có thương hiệu, hấp dẫn.

Di sản văn hóa là nền tảng hình thành tài nguyên du lịch, tạo ra các sản phẩm thu hút khách du lịch. Các di sản khi đưa vào khai thác phục vụ phát triển du lịch thường tạo hiệu ứng tăng nhanh về số lượng khách du lịch. Lượng khách du lịch không chỉ bao gồm khách đến với khu vực có di sản mà bao gồm cả lượng khách quốc tế đến với Việt Nam và cùng đồng thời với việc tăng lượng khách du lịch là tăng tổng thu từ khách du lịch, tăng hiệu ứng lan tỏa tác động phát triển các ngành kinh tế khách, tăng thêm việc làm được tạo ra cho người dân.

Trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi cách mạng công nghệ 4.0 đang rất phát triển, du lịch sáng tạo trên nền tảng văn hóa được xem như một giải pháp, một hướng đi hữu hiệu để vượt qua được thách thức đặt ra. Du lịch sáng tạo mang đến nhiều hoạt động tương tác cho khách du lịch với văn hóa bản địa hơn, những hoạt động mang tính giáo dục, cảm xúc, trải nghiệm nhiều hơn. Nhiều quốc gia trên thế giới đã phát triển du lịch sáng tạo theo cách riêng của mình để phát huy hiệu quả tài nguyên văn hóa trở thành những sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao.

Việt Nam cũng có nhiều lợi thế để phát triển loại hình du lịch sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa. Phát triển du lịch sáng tạo sẽ giúp du lịch Việt Nam đa dạng hóa hệ thống sản phẩm du lịch, gia tăng giá trị cho các sản phẩm du lịch văn hóa truyền thống, phát triển thương hiệu du lịch độc đáo và xúc tiến quảng bá tốt hơn thông qua hiệu ứng mạng xã hội, thu hút được thêm dòng khách trung cấp đến cao cấp, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh.

Để làm được những điều này, cần có những điều chỉnh trong hoạch định chính sách và hành động. Nhìn nhận đúng vai trò của cộng đồng đối với việc bảo tồn phát huy các giá trị di sản; vai trò và quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng trong phát triển du lịch. Đảm bảo tính hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch.

Trong dòng chảy của sự phát triển, chính sự tăng trưởng và phát triển du lịch nhanh chóng đã đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc đảm bảo quản lý di sản văn hóa một cách hiệu quả, nâng cao giá trị của di sản văn hóa cũng như thúc đẩy phát triển du lịch bền vững. Nhiều giá trị di sản văn hóa bị thương mại hóa một cách quá mức, làm suy giảm giá trị văn hóa và truyền thống, phai nhạt bản sắc; Nhiều nét văn hóa truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán địa phương bị phá vỡ, biến đổi; sự đồng hóa văn hóa ngoại lai, những mâu thuẫn về chia sẻ lợi ích…

Tin liên quan

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Hiện thực Ca Lê Thắng

Hiện thực Ca Lê Thắng

Tôi không có vinh hạnh được là bạn đồng niên với Ca Lê Thắng. Các ông là thế hệ đàn anh của chúng tôi ở trường mỹ thuật Yết Kiêu. Thế nhưng may mắn, chúng tôi lại là ...
Cánh đồng thơ Hoàng Vũ Thuật

Cánh đồng thơ Hoàng Vũ Thuật

Cá tính, kiệm lời, cả một đời cần mẫn sáng tạo và đổi mới, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật đã có nhiều đóng góp cho thơ ca nước nhà. Người con của đất Quảng Bình vừa vinh dự ...

Tin nóng

Xem nhiều nhất