Ngôi nhà 48 Hàng Đào của hiệu vải Tam Kỳ
Nhà tư sản có nhiều cống hiến cho cách mạng
Nguyễn Hữu Bảo là người con út của cụ Nguyễn Hữu Nhâm. Cụ Nhâm vốn là chủ hiệu vải Tam Kỳ nổi tiếng Hà Thành những năm 1940. Gia đình cụ Nhâm có hiệu vải ở 48 Hàng Đào - con phố chuyên buôn bán tơ lụa trong và ngoài nước, chỉ dành cho người giàu có thời bấy giờ.
Cụ Nhâm là một trong những tư sản đã tham gia đóng góp tích cực trong "Tuần lễ vàng” được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động vào ngày 4-9-1945. Ngày đó chính tay bà Nguyễn Thị Lãm (bà Tam Kỳ) đã xếp lớp 300 lạng vàng vào hộp bánh Biscuit để đem ra Nhà hát Lớn Hà Nội đóng góp ủng hộ ngân sách quốc gia.
Ông kể, cách đây năm, sáu năm, tôi gặp cụ Nguyễn Đăng - một cán bộ cách mạng cựu trào. Cụ nhận ra tôi là con trai ông Tam Kỳ nên kể một chuyện liên quan đến gia đình tôi. Ngày đó ông Nguyễn Đăng là cấp dưới của ông Nguyễn Hữu Đang - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Tuyên truyền. Sau Cách mạng tháng Tám, ông Đang được Bác Hồ giao nhiệm vụ trong bốn ngày phải lo xong lễ đài cho buổi lễ Tuyên ngôn Độc lập. Nhận nhiệm vụ trang trí lễ đài, ông Đăng bàn với một ông bạn tên là Tô Tiệp ở gần nhà tôi làm cách nào để kiếm được vải đẹp và nhanh nhất. Ông Tiệp xui ông Đăng sang vận động mẹ tôi. Mẹ tôi đã vét hết số lụa đỏ và vàng trong nhà, rồi đi quyên góp thêm của các chị em trong phố.
Câu chuyện đó cả gia đình ông Hữu Bảo không được biết, chỉ sau này nghe người ngoài kể lại. Đến năm 1946, cũng chính hiệu vải Tam Kỳ là nơi đóng góp vải để may 100 bộ quần áo Vệ quốc đoàn cho Đoàn quân Nam Tiến.
Cậu ấm "tư sản” và những chuyện cổ tích thời bao cấp
Ông Bảo sinh năm 1952, tại Thái Nguyên – nơi gia đình ông về tản cư. Năm tháng tuổi thơ của ông là những ngày sống trong hòa bình ngắn ngủi, xen giữa hai cuộc kháng chiến. Là con út của gia đình tư sản, ông dường như chỉ còn nhìn được những hào quang yếu ớt của cuộc sống sung túc khi xưa. Nhưng ông là người sống trọn vẹn trong giai đoạn bao cấp. Ông kể lại những câu chuyện thời bao cấp mà ông tận mắt chứng kiến, những chuyện bây giờ nghe như... cổ tích.
"Các nhạc công Cello thuộc hàng một và hàng hai của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam phải mượn tất của những nhạc công ở hàng dưới, vì họ không có tất để đi khi ngồi biểu diễn. Rồi những anh chàng bằng tuổi tôi, tuy nghèo nhưng muốn tỏ ra "sành điệu” phải dùng bút để vẽ hình cái tất lên cổ chân. Bạn tôi mượn giày, vẽ tất đến nhà bạn gái mới quen. Vào nhà, theo phản xạ anh ta cởi giày, nửa mu đôi bàn chân trắng ởn lộ ra trước sự ngỡ ngàng của gia đình bạn gái. Thế là chia tay!” – ông Bảo cười khà khà kể lại.
Đám cưới của cậu con út hiệu vải Tam Kỳ với cô diễn viên Như Quỳnh nổi tiếng lúc bấy giờ là cũng là một câu chuyện cổ tích đẹp của thời bao cấp. Nghệ sĩ trẻ Như Quỳnh lúc đó đã thành danh với những bộ phim "Bài ca ra trận”, "Bao giờ cho đến Tháng mười”, cũng là cô gái đẹp nức tiếng khu phố cổ. Nhiều người lại biết đến cô vì gia đình cô có ông ngoại là một "thầy tuồng” nổi tiếng, mẹ và người bác chính là hai nghệ sĩ Kim Xuân - Kim Chung, hai cái tên đắt giá của Rạp cải lương Chuông Vàng thời bấy giờ. Qua những mối quan hệ bạn bè, họ quen nhau và đến với nhau, tổ chức một đám cưới đặc biệt vào năm 1980 - đúng giai đoạn đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Đám cưới có một cái xe Hải Âu mượn của Công ty Xe khách Hà Nội, nhưng bạn bè của hai bên, người hâm mộ của diễn viên Như Quỳnh thì đưa dâu kín cả phố Bát Đàn và phố Hàng Đào. Từ giường cưới, vải may quần áo mới, thuốc lá, chè tầu... đều mua theo tiêu chuẩn ít ỏi của thời bao cấp.
Gia đình nghệ sĩ Hữu Bảo – Như Quỳnh (ảnh do gia đình cung cấp)
Lời giải oan sau 35 năm
Trở lại ký ức gần 35 năm trước, gia đình nhà tư sản yêu nước Nguyễn Hữu Nhâm đã vướng phải một tai ương khó ai ngờ. Vốn là Đảng viên Đảng Lao động, từng làm Giám đốc Nhà máy Dệt Tháng 8 ở Thái Nguyên, ông Nhâm có uy tín trong cả giới tư sản lẫn chính quyền cách mạng. Năm 1954, theo Hiệp định Giơnevơ, những tài sản của Pháp thì chính quyền Việt Minh không được quốc hữu hóa. Chính quyền đã vận động giới tư sản mua cổ phần nhà máy Da Thụy Khuê cũng như một vài nhà máy lớn của Pháp thời đó. Ông Nguyễn Hữu Nhâm khi đó là Đảng viên Đảng Cộng sản, đã gương mẫu đóng góp tiền vào mua cổ phần, giữ lại tài sản cho chính quyền cách mạng. Ông được giao làm Giám đốc Nhà máy Da Thụy Khuê. Nhờ có uy tín với giới tư sản, ông cũng thuyết phục được nhiều người làm như mình.
Nhưng sau đó không bao lâu thì diễn ra chính sách cải tạo tư sản, với phong trào "Công tư hợp doanh”. "Bố tôi bị khai trừ khỏi Đảng, giáng xuống làm Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật. Mẹ tôi thì thành nhân viên trong chính cửa hàng bán vải của mình. Tôi nhớ nhiều năm sau đó, có những người quen, cả anh em họ hàng cũng không dám đến nhà tôi vì sợ liên lụy”.
Năm 1955, việc sửa sai được ban hành rộng rãi, hóa giải những câu chuyện oan khiên của thời "Cải cách ruộng đất”. Nhưng với cụ Nguyễn Hữu Nhâm thì đến tận năm 2000 mới được chính quyền minh định lại về những đóng góp của cụ với cách mạng. Cụ được tặng Huân chương Kháng chiến hạng 3, gia đình được chứng nhận "Gia đình có công với nước”. Cụ sống đến năm 2005, thọ 97 tuổi. Nói về cụ Nguyễn Hữu Nhâm, cố giáo sư Trần Quốc Vượng đánh giá cụ là "người tư sản giả và người cách mạng thật”. Còn nhà sử học Dương Trung Quốc thì nói rằng: "Ông vì cách mạng mà trở thành một đại tư sản, sau đó lại bị mắc kẹt chính vì cái danh đại tư sản đó”.
Nguyệt Sinh