: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
10:00:00 - Thứ sáu, 13/07/2018

Khát bên công trình nước sạch

Hàng trăm công trình nước sạch từ các Chương trình 134, 135, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn... được đầu tư tại các xã, huyện vùng cao Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh, Bá Thước... tỉnh Thanh Hóa, chỉ sau một thời gian ngắn được đưa vào sử dụng đã bộc lộ nhiều yếu kém trong việc phát huy hiệu quả. Một số hoặc bị hư hỏng, số khác không thể sử dụng, thậm chí bị rơi vào quên lãng.

Khát bên công trình nước sạch

Nhiều công trình nước sinh hoạt tại khu vực miền núi Thanh Hóa không phát huy hiệu quả.

Nhiều công trình nước sạch bỏ hoang

Theo thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa: Trên khu vực miền núi của tỉnh Thanh Hóa hiện có 493 công trình nước sinh hoạt, trong đó có 485 công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy, phục vụ cho khoảng 73.480 người dân. Bên cạnh những công trình phát huy hiệu quả, giải quyết nhu cầu cấp thiết về nước sinh hoạt cho bà con vùng sâu, vùng xa, thì có không ít công trình sau khi đầu tư không lâu đã bỏ hoang, hư hỏng gây lãng phí. 

Công trình nước sinh hoạt tự chảy tại bản Na Ấu, xã Tam Thanh, huyện vùng cao Quan Sơn là một ví dụ. Nhiều năm qua, công trình này rơi vào quên lãng do không thể phát huy hiệu quả, bỏ hoang và bị hư hỏng, gây lãng phí. Trao đổi với chúng tôi, bà Lương Thị Xuân, bản Na Ấu tỏ rõ sự khó hiểu: “Việc đầu tư công trình nước sinh hoạt cho bà con bản Na Ấu là thể hiện sự quan tâm, ưu ái của Đảng, Chính phủ trước những khó khăn của người dân miền núi về nước sạch. Công trình được bỏ tiền từ khâu đầu tư, khảo sát, lựa chọn địa điểm... Nhưng vì sao sau khi đưa vào sử dụng lại không phát huy hiệu quả? Trách nhiệm thuộc về ai?”. 

Theo bà con bản Na Ấu, sau khi có công trình nước sạch được đầu tư, người dân vẫn “khát” bên công trình nước sạch cả tỷ đồng này?! Trong khi đó, vì công trình không phát huy hiệu quả, bà con dân bản đã tự đầu tư hệ thống giếng khoan, cung cấp nguồn nước sinh hoạt ổn định, thiết thực cho hơn 30 hộ dân. 

Tương tự, công trình nước sinh hoạt tại làng Oi, xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh được xây dựng từ năm 2012, bằng nguồn vốn Chương trình 134, tổng mức đầu tư 1 tỷ đồng. Theo thiết kế, công trình nước sạch này sau khi đưa vào sử dụng sẽ giải quyết tốt nhu cầu nước sinh hoạt cho toàn bộ dân làng Oi. Tuy nhiên, các bể nước của công trình sau khi đưa vào khai thác, sử dụng được 3 tháng thì cũng bỏ hoang do không có nước. 

Nhìn chung, không chỉ huyện Quan Sơn, Lang Chánh mà nhiều huyện miền núi trên địa bàn tỉnh như Thường Xuân, Quan Hóa... có công trình nước sạch được đầu tư theo các Chương trình 134, 135, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn... cũng đang rơi vào tình cảnh tương tự. 

Theo khảo sát của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường - thuộc Sở NNPTNT, trong tổng số các công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy có tới 103 công trình bị hư hỏng phải ngừng hoạt động, 138 công trình kém chất lượng, bị hư hỏng đường ống, bể chứa. Trong đó, huyện Quan Hóa có 27 công trình ngừng hoạt động, huyện Quan Sơn có 20 công trình, huyện Lang Chánh có 15 công trình, huyện Thường Xuân có 13 công trình...

Cha chung không ai khóc

Trao đổi với phóng viên báo Đại Đoàn Kết, ông Vũ Văn Đạt- Chủ tịch UBND huyện Quan Sơn cho biết: Các công trình đầu tư nước sạch thuộc các Chương tình 134, 135, Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.... được đầu tư trên địa bàn qua các giai đoạn, thời kỳ đã góp phần to lớn vào việc cải thiện đời sống, cũng như nhu cầu nước sạch cho bà con nhân dân huyện Quan Sơn. Tuy nhiên, theo thời gian, một số công trình sau đầu tư không phát huy hiệu quả, trong đó chủ yếu là các công trình do UBND xã làm chủ đầu tư. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng như đã nêu ở trên, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là do: Sau khi các công trình nước sạch được bàn giao cho địa phương quản lý và sử sụng, do không có cơ chế, kinh phí cho các cá nhân, tập thể quản lý, bảo dưỡng đã khiến các công trình này rơi vào thảm cảnh hư hỏng đường ống dẫn nước, dẫn đến mất nước không thể sử dụng, xuống cấp theo thời gian. 

Ông Đạt cho biết thêm: Thời điểm mà Ban Quản lý dự án của huyện chưa được thành lập, các dự án nước sạch bấy giờ từ Chương trình 134, 135... chủ yếu do UBND các xã làm chủ đầu tư. Với việc các chủ đầu tư là các xã không có chuyên ngành, công tác giám sát, thanh kiểm tra còn chưa chặt chẽ dẫn đến các công trình được đầu tư nhiều nhưng... chỉ làm theo kiểu áng chừng.

Bên cạnh đó, về khách quan mà nói, các công trình nước sinh hoạt tập trung được đầu tư xây dựng đều nằm ở những vị trí địa lý phức tạp, khó khăn, do vậy ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức thực hiện và tiến độ công trình; định suất vốn đầu tư thấp và bình quân theo đầu xã, nên khó khăn cho việc lựa chọn công trình phù hợp với lượng vốn được giao; các cán bộ phụ trách trong công tác xây dựng các công trình thời kỳ trước đều làm kiêm nhiệm, hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn trong công tác quản lý đầu tư xây dựng, dẫn đến một số công trình tiến độ thi công chậm; một số nhà thầu thiếu trách nhiệm, để thời gian thi công kéo dài gây ảnh hưởng đến chất lượng các công trình.

Nguyên nhân là vậy, điều ai cũng nhìn thấy, song giải pháp nào cho những công trình nước sinh hoạt bỏ hoang; trách nhiệm trước những công trình vừa làm đã hỏng thuộc về ai..., vẫn đang là câu hỏi còn bỏ ngỏ.    

Nguyễn Chung