Năm 2021: Trợ cấp thôi việc, mất việc được tính như thế nào?

Hương An

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019 về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định đã hướng dẫn chi tiết cách tính trợ cấp thôi việc, mất việc theo quy định của Bộ luật mới năm 2021.

Năm 2021: Trợ cấp thôi việc, mất việc được tính như thế nào?
Từ năm 2021 sẽ áp dụng cách tính trợ cấp, mất việc theo NDD145/2020

Theo quy định, tiền lương được lấy làm căn cứ tính trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Cách tính trợ cấp thôi việc từ năm 2021

Về cơ bản, các căn cứ tính trợ cấp thôi việc từ năm 2021 không thay đổi nhiều so với quy định tại Nghị định 05/2015 và Nghị định 148/2018. Theo Điều 46 BLLĐ 2019, người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc thì mỗi năm làm việc sẽ được hưởng nửa tháng tiền lương. Cụ thể:

Tiền trợ cấp thôi việc = ½ x Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc x Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc

Cách tính trợ cấp mất việc từ năm 2021

Theo Điều 47 BLLĐ 2019, NLĐ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc thì mỗi năm làm việc sẽ được hưởng một tháng tiền lương. Cụ thể:

Tiền trợ cấp mất việc = Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc x Tiền lương để tính trợ cấp mất việc

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc

Tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP giải thích về thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trong đó, tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ bao gồm:

- Thời gian NLĐ đã trực tiếp làm việc;

- Thời gian thử việc;

- Thời gian được NSDLĐ cử đi học;

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

- Thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được NSDLĐ trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

- Thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được NSDLĐ trả lương;

- Thời gian ngừng việc không do lỗi của NLĐ;

- Thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việc lễ tết, nghỉ hằng năm, nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc, nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương (kết hôn, con cái kết hôn, cha mẹ vợ chồng mất);

- Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện NLĐ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 176 và thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128 của Bộ luật Lao động.

Theo đó, thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (tức đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm, trên 06 tháng được tính bằng 01 năm làm việc.

Như vậy, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc được xác định như sau:

Thời gian làm việc để tính trợ cấp = Tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế - (Thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp + Thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp)

Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc

Tại khoản 1 Điều 8 Nghị định 145 hướng dẫn Điều 46 BLLĐ năm 2019, NLĐ được chi trả trợ cấp thôi việc nếu đã làm việc thường xuyên cho NSDLĐ từ đủ 12 tháng trở lên và chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) theo một trong các căn cứ sau:

- Do hết hạn hợp đồng, trừ trường hợp phải gia hạn cho NLĐ là thành viên Ban lãnh đạo tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn HĐLĐ.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- NLĐ bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

- NLĐ chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- NSDLĐ là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.

Bên cạnh đó, tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định này cũng chỉ ra 02 trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc:

- NLĐ đủ điều kiện hưởng lương hưu.

- NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.

Điều kiện hưởng trợ cấp mất việc

Tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì NSDLĐ có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm đối với NLĐ đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật Lao động, cụ thể:

- NLĐ thôi việc trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

- NLĐ thôi việc khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Găng tay giả

Găng tay giả

Lô hàng này có khối lượng đến 5.640 kg, trị giá hàng hóa vi phạm 163,8 triệu đồng.

Xem nhiều nhất