: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
09:00:29 - Thứ ba, 13/03/2018

Chứng nhân một thế hệ

Ở số nhà 47/202 Đồng Khởi, quận 1, TP Hồ Chí Minh có một cụ già tuổi đã ngót 100, thuộc về một thế hệ đặc biệt. Thời trai trẻ cụ sớm từ bỏ vinh hoa, phú quý dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, lập được nhiều chiến công vẻ vang.

Thời bình, cụ lại  lặng lẽ trở về với công việc của một nhà giáo, nhà khoa học mà không đòi hỏi một đãi ngộ gì, từng nhiều năm giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Cụ là Phó giáo sư Nguyễn Phước Hoàng.

Chứng nhân một thế hệ

Họp mặt bạn chiến đấu nhân kỷ niệm 43 năm Mặt trận Nha trang (1946-1989), ông Nguyễn Phước Hoàng đứng hàng sau thứ nhất từ trái.

“Cậu ấm” dấn thân

Theo cách gọi hoàng tộc cụ là Tôn Thất Hoàng. Nguyễn Phước Hoàng là cháu đời thứ bẩy của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725). Cha là Tôn Thất Quảng từng là thượng thư Bộ Lễ, kiêm Bộ Công, hưu quan từ năm 1942.

Lúc nhỏ Nguyễn Phước Hoàng có khiếu về toán, đỗ tú tài toán năm 1941, ra Hà Nội học tiếp Cao đẳng Khoa học khoá một (1941-1945).

Tháng 3/1945, chàng trai trong hoàng tộc vào trường Thanh niên tiền tuyến do hai nhà trí thức nổi tiếng là Phan Anh và Tạ Quang Bửu sáng lập.

Học quân sự vẻn vẹn có một tháng rưỡi, Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 nổ ra, thế là “cậu ấm” Hoàng không do dự dấn thân vào dòng thác cách mạng.

Trường Thanh niên tiền tuyến được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh giao thành lập Giải phóng quân Thuận Hoá.

Uỷ ban chấp hành Giải phóng quân ra đời, do Phan Hàm (sau là thiếu tướng, cục trưởng, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN) làm trưởng, Cao Văn Khánh (sau là trung tướng, phó tổng tham mưu trưởng) làm phó và Tôn Thất Hoàng làm thư ký, giữ con dấu của Uỷ ban.

Ngày 23/10/1945, Nguyễn Phước Hoàng tham gia chi đội Giải phóng quân Nam tiến chi viện cho mặt trận Nha Trang, cùng với những bạn học sau này đều trở thành những chỉ huy cao cấp của quân đội ta như: Nguyễn Thế Lâm, Lâm Quang Minh, Vũ Quang Hồ, Phan Nhĩ…

Ban đầu ông là trợ lý tác chiến cho chỉ huy phó mặt trận Hà Văn Lâu, ít lâu sau được giao thêm nhiệm vụ chỉ huy căn cứ Đồng Trăn. Mặt trận giữ vững hơn 3 tháng, được Bác Hồ và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi thư khen ngợi: “...đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giam chân quân Pháp trong 101 ngày đêm”.

Chi đội Bắc Bắc do Lư Giang chỉ huy vào thay thế, đơn vị ông chuyển ra đánh du kích ở vùng Láng Nhớt, Bồng Sơn.

Sau đó Nguyễn Phước Hoàng được trên cử đi học trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khoá 1.

Cuối năm 1946, ông được lệnh điều về Cục Quân giới. Tại “Thủ đô tản cư” của chính phủ kháng chiến là Ứng Hoà (Hà Đông cũ), ông làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng, kỹ sư Trần Đại Nghĩa và những bạn học cùng lớp Cao đẳng khoa học như: Hoàng Đình Phu, Phạm Đồng Điện, Ngô Điền, Lê Khắc, Phạm Duy Khương…

Bắt đầu một công việc mới là nghiên cứu chế tạo vũ khí.

Từ Badôca đến SKZ

Nhóm nghiên cứu một loại tên lửa nhỏ, ở đầu đạn lắp thuốc nổ lõm tạo sức công phá lớn, được gọi là “Badôca”.

Trong hồi ký chưa xuất bản, cụ Nguyễn Phước Hoàng kể về việc nghiên cứu loại súng chống tăng mới khi kỹ sư Trần Đại Nghĩa vừa về nước: “…

Anh Nghĩa ngày đêm với cây thước tính trong tay tính toán độ cháy của các liều phóng, đốt thử các loại thuốc con bài năm cha ba mẹ mà ta vét được từ các kho vũ khí của Pháp, Nhật.

Phải tính lại tốc độ cháy, rồi thay đổi kích thước của lỗ phụt khí.

Các loại thuốc nổ khác nhau sẽ rất ảnh hưởng đến độ chính xác bắn trúng mục tiêu, nên đành phải khắc phục bằng cách bắn gần, nguy hiểm cho người bắn, súng của địch bắn ở cự ly 200-300 mét, trong khi của ta có 20-30 mét.

Anh Nghĩa làm việc trong một căn buồng thật…đáng sợ. Buồng có khoảng 10 mét vuông, kê một cái giường sắt cá nhân, một cái bàn, hai cái ghế.

Dưới gầm giường nhét toàn bao tải thuốc nổ mêlinít và TNT, còn gầm bàn thì có thuốc nổ con bài, thùng thuốc đen để nhồi mồi cháy, lính quân giới gọi là a-mooc.

Anh lại hay hút thuốc lá khi làm việc, nói dại, chỉ một tàn lửa bén vào thì… Chúng tôi cứ rờn rợn khi vào phụ việc cho anh Nghĩa.

Nhưng được cái anh vẫn rất cẩn trọng mỗi khi hút thuốc và thường động viên chúng tôi, hay kể những chuyện vui khi còn làm cho hãng chế tạo máy bay Messerschmidt nổi tiếng của Đức.

Những lúc ấy tiếng cười của anh sảng khoái vang xa không thể lẫn được. Chúng tôi còn cho in li tô một tập sách nhỏ hướng dẫn cách sử dụng cho bộ đội.

Tình hình rất khẩn trương, có tin Pháp sắp chọc thủng mặt trận Cầu Mới-Hà Đông tấn công lên nơi chính phủ kháng chiến vừa sơ tán.

Nửa đêm ngày 1/3/1947, ông Phan Mỹ mang chỉ thị từ Bộ Quốc phòng đến gặp kỹ sư Trần Đại Nghĩa, cần đưa ngay khẩu Badôca cho bộ đội anh Vương Thừa Vũ để chặn đường tiến công của địch.

Dưới ánh đèn dầu, anh Nghĩa cùng chúng tôi nhồi, lắp đạn, kiểm tra súng. 3 giờ sáng ngày hôm sau, 10 quả đạn Badôca cùng một viên đạn khói Smoke được xếp vào hai hòm gỗ kèm theo một khẩu súng được tôi cùng hai cảnh vệ mang đi Quốc Oai.

Đến nơi, ngay trong đêm anh Vũ giao tôi trực tiếp huấn luyện một tiểu đội cảnh vệ cách sử dụng vũ khí mới.

Tờ mờ sáng ngày 3/3/1947, đúng như dự đoán, quân Pháp có xe tăng dẫn đầu từ Hà Đông, tiến theo đê sông Nhuệ đánh thẳng vào nơi chính phủ ta sơ tán ở Quốc Oai.

Tiểu đội cảnh vệ do anh Khổng chỉ huy, đã phục sẵn ở triền đê, dùng Badôca bắn cháy ngay chiếc xe tăng đi đầu, bắn bị thương chiếc đi sau.

Hoảng vì thấy “rồng lửa” đột ngột xuất trận, cả đội quân Pháp rút chạy. Chính phủ được bảo vệ an toàn, sau đó tiếp tục sơ tán lên chiến khu Việt Bắc...

Giữa tháng 3/1947, Nha Nghiên cứu kỹ thuật, cùng Cục Quân giới chuyển lên Tuyên Quang.

Ở đây trong các năm tiếp theo, dưới sự chỉ đạo của kỹ sư Trần Đại Nghĩa, chúng tôi còn nghiên cứu cải tiến và chế tạo được nhiều loại vũ khí mới trên cơ sở những vũ khí thu được của địch như: mìn lõm ba càng loại lớn, mìn cóc, mìn cháy hẹn giờ, lựu đạn AT, súng cối 120 cải tiến, đặc biệt là loại vũ khí có sức công phá mạnh không kém Badôca là các loại súng không giật, viết tắt là SKZ, gồm: SKZ 60, SKZ 81, SKZ 120.

Trong trận Phố Ràng năm 1949, ta dùng SKZ 60 diệt nhanh gọn lô cốt chính của giặc, khi vừa làm chủ trận địa  chiến sĩ hô vang: “Quân giới Việt Nam muôn năm!” Bộ đội Quân khu 5 thì nhắn ra Việt Bắc, rất hoan nghênh SKZ 60 và 120, với những công sự hầm ngầm kiên cố pháo không xuyên được, loại súng này trị ngon lành...”

Không chỉ có nhiều đóng góp cho ngành Quân giới, ông Nguyễn Phước Hoàng còn nhiều duyên nợ với Pháo binh.

Từ tháng 5/1950, ông được điều sang Cục Pháo binh (lúc đầu do kỹ sư Trần Đại Nghĩa kiêm nhiệm cục trưởng) làm Trưởng phòng Nghiên huấn.

Từ tháng 7/1951 Cục Pháo binh chuyển thành Bộ Tư lệnh Pháo binh, ông nhận cấp bậc tiểu đoàn trưởng, quyền tham mưu trưởng Trung đoàn 34 lựu pháo, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, E34 đổi thành E45 để giữ bí mật. 

Cuối năm 1958, đợt phong quân hàm đầu tiên của quân đội ta, ông cấp bậc trung đoàn phó, chính thức đeo hàm Thiếu tá. Nhìn lại cuộc đời binh nghiệp, cựu chiến binh Nguyễn Phước Hoàng thường nói vui là mình “cao số”.

Nhiều lần đứng trước trận tiền mà không bị dính đạn, ở chiến dịch Điện Biên Phủ hầm pháo của ông mấy lần bom đào sới mà người chẳng việc gì. Chỉ một lần ông bị “gục” ở mặt trận Nha Trang là do… muỗi sốt rét! 

Người thầy, nhà khoa học khiêm nhường

Hoà bình lập lại trên miền Bắc, năm 1959 ông chuyển ngành về Trường đại học Bách khoa, Hà Nội. Ở đây, ông gặp lại người thầy hồi năm 1933-1934 tại trường Thiên Hựu, Huế, cũng là người thủ trưởng trực tiếp ở chiến khu Việt Bắc, đó là giáo sư, hiệu trưởng Tạ Quang Bửu.

Ông còn gặp lại các bạn cùng khoá Cao đẳng Khoa học năm xưa như: Hoàng Xuân Tuỳ, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Đức Thừa (hiệu phó), Nguyễn Như Kim (chủ nhiệm khoa)…

Ban đầu ông chỉ giảng dậy “tập sự” kiêm thí nghiệm viên thuỷ lực. Đến năm 1964 ông mới là trưởng bộ môn Thủy lực.

Cần mẫn, khiêm tốn, chịu học hỏi, lại vốn có nền tảng toán học vững, những năm giảng dạy, nghiên cứu ở trường ông đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển ngành Thuỷ khí động lực-cơ học chất lỏng kỹ thuật của nước ta.

Ông có học hàm Phó giáo sư và nghỉ hưu năm 1987, sau 14 năm là “bộ đội tình nguyện”(như cách nói vui của ông) và 28 năm làm thầy giáo.

Cụ Nguyễn Phước Hoàng đã sống quãng đời còn lại vui vầy với con cháu tại một căn hộ nhỏ ở TP Hồ Chí Minh.

Cụ tuy minh mẫn, nhưng bị “lác” tai, ai muốn hỏi chuyện phải bút đàm. Ký ức về thời trai trẻ hào hùng vẫn còn tươi rói trong tâm khảm cụ.

Sau nhiều năm cặm cụi nhớ lại và suy nghĩ trên bàn viết, mới rồi cụ đã hoàn thành một cuốn hồi ký dầy dặn, tạm đặt tên là “Chứng nhân một thế hệ”.

Vâng, cụ Nguyễn Phước Hoàng là chứng nhân, vừa là người trong cuộc ở một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, thuộc về Thế hệ vàng của cách mạng Việt Nam!  

Phạm Quang Đẩu