Mãi còn 'Sắc cỏ tình yêu'

Nhà thơ - nhà giáo - tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn, sinh năm 1963, nguyên quán Ân Thi, Hưng Yên, Phó Vụ trưởng vụ Giáo dục Trung học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), vừa từ trần tại Hà Nội vào hồi 21h30’ ngày 28/4/2020 sau một thời gian lâm trọng bệnh. Cầm tập thơ “Phút rành rang sống chậm” anh tặng, tôi vẫn còn thảng thốt không tin đây lại là tập thơ cuối cùng của anh.

Mãi còn 'Sắc cỏ tình yêu'

Nhà thơ Nguyễn Trọng Hoàn.

Tôi được gặp nhà thơ Nguyễn Trọng Hoàn lần đầu cách đây vừa tròn một phần tư thế kỷ, khi tôi còn là học sinh lớp chuyên Văn của trường Lê Quý Đôn thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây cũ, do nhà thơ – nhà giáo ưu tú Đặng Hiển phụ trách môn Văn. Anh Nguyễn Trọng Hoàn khi đó đang làm cho tạp chí Tài hoa trẻ, đã đến giao lưu trò chuyện với lớp chúng tôi về văn học, thi ca. Buổi gặp gỡ chỉ 2 tiếng nhưng đã để lại ấn tượng sâu đậm mãi trong tôi suốt những năm tháng về sau này, bởi niềm say mê thi ca của anh, bởi giọng đọc thơ của anh da diết, tình cảm, lắng sâu nhiều cảm xúc. Bẵng đi một thời gian rất dài không gặp lại anh nhưng tôi vẫn thường xuyên được đọc thơ anh đăng nhiều trên các báo, đọc các tiểu luận văn chương hoặc nghe các bài viết của anh được phát trên chương trình Văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Vào cuối những năm 90 và đầu thập niên 2000, tôi đọc được nhiều bài lục bát rất ấn tượng mang phong cách riêng của Nguyễn Trọng Hoàn: “Không dưng đồng vọng con đường/ Dấu chân dư ảnh gió vương bụi mờ/ Cây xào xạc, lá ngu ngơ/ Cột đèn đứng ngóng vẩn vơ bên hè” (Mùa hạ).

Anh Nguyễn Trọng Hoàn có một sức đọc nhanh và sức viết dồi dào khiến nhiều người kinh ngạc. Là người phải đi công tác khá nhiều, cứ mỗi chuyến bay, anh cầm theo một, hai cuốn sách mới với dung lượng trên dưới 300 trang và đọc hết, đều đặn hàng tuần. Không kể các chuyên luận, tiểu luận, sách phê bình văn học, sách nghiên cứu, chỉ tính riêng về thơ, từ năm 1990 tới nay, anh đã xuất bản tới 12 tập thơ: Sắc cỏ tình yêu (1990), Và em khi ấy (1994), Thả diều (in chung,1997), Huyền cẩm (1997), Gió và nhớ (1999), Màu áo thuở ban đầu (in chung, 2000), Ngẫu cảm (2002), Tam ca (in chung, 2007), Cánh diều khao khát (2012), Bến quê (2012), Năng lượng của sự có mặt (2016).

Khi tập thơ cuối cùng của anh, “Phút rành rang sống chậm” vừa in xong, tôi bất ngờ được gặp lại anh vào buổi trưa tháng 10 năm ngoái trong một nhà hàng yên tĩnh bên Hồ Ba Mẫu, nơi anh vẫn thường ghé ăn trưa. Buổi gặp gỡ hôm đó còn có cả nhà thơ Lương Ngọc An (Báo Văn nghệ). Nhắc lại kỷ niệm xưa, anh Hoàn vẫn nhớ như in buổi trò chuyện với lũ học trò chúng tôi năm nào.

Sau bao nhiêu năm, dù công việc bộn bề bởi trách nhiệm của một người làm công tác quản lý, Nguyễn Trọng Hoàn vẫn giữ nguyên vẹn tình yêu với thơ. Thơ với anh dường như người bạn hàng ngày, trong mỗi bữa ăn giấc ngủ, trên mỗi chặng đường công tác, trong mỗi chuyến bay hay mỗi chuyến xe. Trong 184 bài thơ của tập “Phút rành rang sống chậm”, có thể thấy bàn chân anh đã đi khắp muôn nơi, từ các đất nước xa xôi như Hà Lan (bài Lan man trong bảo tàng Van Gogh), Mỹ (bài UK nhiệt đới), Pháp (bài Paris tạm biệt), Nhật (bài Yên tĩnh Tokyo), Hàn Quốc (bài Âm độ Seoul), Đức (bài Ký ức Berlin) cho tới khắp các vùng miền trên tổ quốc Việt Nam như: Quảng Trị, Kon Tum, Bảo Lộc, Lý Sơn, Côn Đảo, Cần Thơ, Huế, Tuyên Quang, Vũng Tàu, Sài Gòn, Quy Nhơn, Cao Bằng, Cà Mau, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hội An, Biên Hòa, Thái Nguyên, Hà Giang, Bình Dương, Phan Rang, Nha Trang, Bạc Liêu… Dường như đi đến đâu anh cũng có thơ, mỗi bài thơ là mỗi mê đắm bâng khuâng, luyến lưu trìu mến, mỗi ân tình mà gã thi sĩ đa cảm luôn là người suốt đời mang nợ: “Ngỡ có thể mà lại không có thể/ Một mây trôi một nắng mướt bên thềm/ Gió hoang dại Thùy Vân hoa đại trắng/ Một bên thiền một bên sóng không yên/ Em có thật khiến cuộc đời có thật/ Lặng lẽ ân tình lặng lẽ tên” (Khoảng lặng Vũng Tàu).

Nguyễn Trọng Hoàn luôn luôn di chuyển, hoạt động không ngừng, nhưng lại mang tôn chỉ sống chậm như chính nhan đề tập thơ đã nói lên. Sống chậm để suy tư, để sâu lắng, để viết được thơ nhiều hơn nữa. Anh đã sống chậm thành công trong mật độ những chuyến đi ào ạt cả trong và ngoài nước. Hãy cùng đọc lại một số nhan đề các bài trong tập của anh: Miền Tây chầm chậm, Tháng Giêng đọc chậm, Phút sống chậm cùng một câu hát cũ, Và biểu cảm phút rành rang sống chậm… Phải tĩnh tâm, sâu lắng và tinh tế đến độ nào, Nguyễn Trọng Hoàn mới có những quan sát thiên nhiên, trời đất và viết được những câu thơ run rẩy tươi non như thế này: “Trôi lang thang trong nỗi nhớ mịt mùng/ Hoa xoan ngát tháng giêng vào tím biếc/ Gót nhỏ chân trần đường xa biền biệt/ Mươn mướt mưa phùn sóng sánh cỏ non tươi/ Tháng Giêng say hương bưởi ướp bên trời/ Bước líu ríu vương nói cười qua ngõ/Mây thiếu nữ nghiêng dòng sông cửa ngỏ/ Nắng ngập ngừng biêng biếc gió ươm tơ” (Tháng Giêng đọc chậm).

Từ tập thơ đầu tiên mang tên “Sắc cỏ tình yêu”, cho đến tập thơ cuối cùng này, tôi vẫn bắt gặp thật nhiều những ngọn cỏ trong thơ Nguyễn Trọng Hoàn. Những ngọn cỏ của anh là tháng năm hoài niệm, là ký ức trong veo, là tuổi thanh xuân như vẫn còn ngưng đọng mãi: “Ngọn cỏ trong veo bầu trời thơ bé/ Làng xa chìm đêm vọng tiếng ầu ơ” (Khoảng trống), “Em đã rơi hờ trên cỏ ướt/ Những đêm dài không tới bình minh” (Lẩn thẩn với @), “Như chẳng thể mong manh hơn – ngọn cỏ/ Tôi sững sờ níu giữ một làn hương” (Qua một vùng cát trắng), “Cuối trời vời vợi trăng sao/ Vọng nghe hoa cỏ thấu vào tâm can” (Chiều quê).

Nguyễn Trọng Hoàn còn có thật nhiều câu thơ xúc động về mẹ. Người mẹ với Nguyễn Trọng Hoàn luôn là một miền thiêng, lúc nào anh cũng muốn được trở về bên mẹ, yêu mẹ đắm đuối như thể mình mãi là một đứa trẻ. Trong đời thực, anh dùng ảnh mẹ làm avatar trên trang cá nhân, anh lắp camera kết nối với quê nhà để lúc nào cũng có thể nhìn thấy mẹ. Ngoài hai bài thơ mang nhan đề chính danh gắn với người mẹ (Mẹ ơi con ước, Mẹ) trong tập “Phút rành rang sống chậm”, hình ảnh mẹ trải khắp các bài thơ của anh. Đó là một người mẹ nông dân vất vả tảo tần, nuôi con lớn khôn trong gian khó: “Phân ủ bùn hoai trĩu vai đời mẹ” (Khoảng trống), “Lá cỏ sắc, bước chân cao thấp/ Lững thững theo mẹ vai bạc áo sờn” (Miền thơ ấu), “Mẹ nuôi con câu hát cũng vơi đầy/ Những trái gió trở trời, những chiêm khê mùa lụt” (Câu hát). Khi xem tranh của một người bạn, câu thơ về mẹ không cần gọi cũng đến thật tự nhiên: “Vệt nắng ban mai hoàng hôn bố cục/ Những gam màu quê và mẹ rưng rưng” (Màu lên ẩn ức). Thế nên, tình yêu chung thủy và bản năng nhất của đứa con thi sĩ luôn hướng về mẹ như một điều mãi mải không đổi thay: “Kinh tuyến nào mẹ cũng là giờ gốc: Vĩ tuyến nào đồng hồ chẳng chỉnh kim” (Giao thừa nhớ).

Nguyễn Trọng Hoàn có rất nhiều màu sắc trong môt bản thể. Vừa là nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý, nhưng hơn hết thảy anh là một nhà thơ. Tôi biết anh còn muốn làm thơ và luyến lưu với cuộc đời nhiều lắm, nỗi đắm say với nhiều xa xót ấy đã làm nên một thi phẩm thật đặc sắc trong tập “Phút rành rang sống chậm”, bài thơ “Khế ước”, mà tôi coi như một tuyên ngôn của anh: “Không ai biết lần đầu tôi khóc/ trước ban mai (khóc thật âm thầm)/ Những hạt sương long lanh chuỗi ngọc/ bừng tan đau đớn nhận bàn chân/ Tôi đã khóc trước dịu dàng ánh sáng/ sớm tinh mơ bước thật khẽ khàng/Sợ xé loãng làn hương bảng lảng/ Muốn sang sông không dám gọi đò ngang/ Tôi đã khóc trước tươi ngời cỏ ướt/ rằng ngày mai – lối cũ phải xa rồi/ Thôi nhựa mít dính chuồn kim chuồn ớt/ Chẳng nói gì chúng lặng lẽ nhìn tôi…”

Là một người bước chân ra từ nông thôn, Nguyễn Trọng Hoàn lúc nào cũng giữ trọn một phong thái giản dị, gần gũi, đối với anh em bè bạn lần nào gặp nhau cũng chân tình, nồng ấm. Anh Hoàn ơi, còn nhớ mãi những chiều nào nhâm nhi ly bia, nghe anh tâm sự những câu chuyện nghề, chuyện đời. Bài viết mà em đã hứa viết về thơ anh, bây giờ có rồi đây, nào ngờ lại cũng là bài tiễn anh đi xa, một chuyến đi không bao giờ quay trở lại. Nhưng anh ơi, những bài thơ của anh vẫn còn đọng mãi trong lòng anh em bạn bè. Khi mỗi năm học mới sắp sang, trên môi các bé thơ sẽ còn vang lên những câu hát phổ từ thơ anh: “Tạm biệt búp bê thân yêu/ Tạm biệt gấu misa nhé/ Tạm biệt thỏ trắng xinh xinh/ Mai tôi vào lớp Một rồi/ Nhớ lắm quên sao được, trường mầm non thân yêu”…

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Sức mạnh yêu thương đè cơn lũ dữ

Sức mạnh yêu thương đè cơn lũ dữ

Truyền thống tốt đẹp hàng nghìn đời nay của dân tộc Việt Nam là mỗi khi “nước sôi lửa bỏng” thì mọi người trong xã hội lại đoàn kết thành một khối, tương thân tương ...
Mùa cưới ở làng xưa

Mùa cưới ở làng xưa

Tại cơn gió mà dòng tơ trăng trở lạnh, tại bông hoa cũng không muốn nở một mình, ông tơ bà nguyệt lại đã buộc đủ tơ duyên, nên con trai con gái yêu nhau rồi phải về ...
Thiếu sót lần này, rút kinh nghiệm cho lần sau

Thiếu sót lần này, rút kinh nghiệm cho lần sau

Họa sĩ Trần Ngọc Bảy hiện đang sống và làm việc ở TP Huế. Khi nhà ba mẹ và các chị ngập sâu 3 mét trong vùng rốn lũ Quảng Bình, anh trở về quê, vừa giúp đỡ gia đình, ...
Khoan dung

Khoan dung

Khoan dung, độ lượng, tha thứ, bao dung, khoan thứ là những đức tính tốt đẹp, nhân hậu, chỉ có được ở con người có đạo lý, có lòng thương người.

Tin nóng

Đón đọc Tinh hoa Việt số 136

Đón đọc Tinh hoa Việt số 136

Ấn phẩm Tinh hoa Việt (báo Đại Đoàn Kết) số 136, dày 32 trang, in trên giấy tốt, trình bày đẹp, phát hành trên toàn quốc ngày 25/11/2020.

Xem nhiều nhất