Vai trò của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ

ThS Nguyễn Thu Dung (Viện Nhà nước và Pháp luật)

Phân tích những kết quả của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ, đồng thời, phân tích những hạn chế, bất cập, gây cản trở, khó khăn cho hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Ủy ban kiểm tra.  

Kỳ họp thứ 45 Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Kỳ họp thứ 45 Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Thực hiện quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc chấn chỉnh công tác cán bộ, trong những năm gần đây, nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng về công tác cán bộ đã được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Góp phần vào kết quả đó là vai trò và hoạt động hiệu quả của một trong các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát công tác cán bộ - Ủy ban kiểm tra.

Bài viết sau đây sẽ phân tích những kết quả của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ, đồng thời, phân tích những hạn chế, bất cập, gây cản trở, khó khăn cho hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Ủy ban kiểm tra.  

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ

Công tác cán bộ có vị trí quan trọng đối với sự tồn vong của chế độ và nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi việc[1]”.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” cũng đã xác định rằng: “Công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững”. Như vậy, có thể thấy, công tác cán bộ trong thời kỳ mới đã được Đảng nhận định và được coi là chiến lược hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.

Tuy nhiên, khi đánh giá về thực trạng công tác cán bộ hiện nay, các văn kiện của Đảng cũng đã chỉ ra một trong những hạn chế, yếu kém hiện nay trong công tác cán bộ đó là chưa có cơ chế phân công, phân cấp, phân quyền rõ ràng; chưa ràng buộc với trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “chạy chức, chạy quyền” và những tiêu cực trong công tác cán bộ; đồng thời, khâu kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả.

Từ đó, Ban chấp hành Trung ương đã xác định  rằng, để khắc phục những hạn chế của công tác cán bộ hiện nay, việc phân công, phân cấp cần phải gắn liền với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm[2]. Và đó cũng là mục tiêu đã được ghi nhận tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Để thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đã đặt ra, Ban Cháp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 179-QĐ/TW ngày 25/2/2019 về “Chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”. Tiếp tục sau đó, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 về “Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.

Trong đó, hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật của Đảng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng được coi là giải pháp chiến lược, góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, một nội dung mà lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong văn kiện của Đảng. Từ đó, có thể thấy, vai trò của Ủy ban kiểm tra với tính chất là cơ quan chuyên trách của Đảng phụ trách công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng lại càng được nhấn mạnh hơn nữa.

Hiện nay, Ủy ban kiểm tra được phân cấp ở trung ương (Ủy ban Kiểm tra Trung ương) và ở địa phương (Ủy ban Kiểm tra các cấp).

Ủy ban kiểm tra Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương bầu tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương. Số lượng Ủy viên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương do Ban chấp hành Trung ương quyết định. Theo quy định, số lượng ủy viên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương là từ 19 đến 21 ủy viên chuyên trách, trong đó không quá 1/3 là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương. Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm Chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm; số lượng phó chủ nhiệm do Bộ Chính trị quyết định[3].

Giúp việc cho Ủy ban kiểm tra Trung ương là một số cơ quan được gọi là “cơ quan Ủy ban kiểm tra trung ương”, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng[4].

Trong khi đó, Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy (Khoản 1 Điều 31 Điều lệ Đảng). Việc quy định số lượng cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ, ủy viên Ủy ban kiểm tra của cấp ủy mỗi cấp căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, vị trí, đặc điểm của mỗi cấp, vào số lượng đơn vị trực thuộc và số lượng đảng viên của mỗi đảng bộ[5].

Ngoài ra, các văn bản cũng nhấn mạnh việc điều động ủy viên của Ủy ban kiểm tra, ngoài việc tuân thủ theo các quy trình về điều động cán bộ, còn phải tuân thủ các quy trình “giám sát chéo” nhằm tránh việc điều động ủy viên không có lý chính đáng của cấp ủy cùng cấp. Theo đó, về nguyên tắc, các thành viên Ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý.

Ngoài việc thay đổi chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra như quy định của Điều lệ Đảng, khi thay đổi phó chủ nhiệm hoặc ủy viên Ủy ban kiểm tra thì cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp dưới phải trao đổi với Ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp trước khi thực hiện[6].

Về thẩm quyền, hiện nay, Ủy ban kiểm tra được phân công các nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác cán bộ sau đây: 

(1) Kiểm tra cán bộ, đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên [7]

Khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng hoặc đảng viên được hiểu là khi có những thông tin, tài liệu thu thập được đối chiếu với các quy định của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, với chính sách, pháp luật của Nhà nước có căn cứ cho thấy tổ chức đảng hoặc đảng viên đó không tuân theo, không làm hoặc làm trái[8].

Việc phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm của đảng viên được thực hiện thông qua công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra của các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và giám sát của nhân dân hoặc thông qua quá trình tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng và đảng viên; việc bình xét phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng hoặc thông qua hoạt động tố cáo, khiếu nại, phản ảnh, kiến nghị của đảng viên và quần chúng; phản ảnh của các phương tiện thông tin đại chúng đã được kiểm chứng.

Sau khi xác định có dấu hiệu vi phạm, Thường trực Ủy ban kiểm tra hoặc Ủy ban kiểm tra (nơi không có thường trực Ủy ban kiểm tra) sẽ là người có thẩm quyền  ra quyết định kiểm tra.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Ủy ban kiểm tra phải tập trung kiểm tra những cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, vi phạm tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý.

 Đối với cấp ủy, tổ chức đảng, nội dung kiểm tra gồm kiểm tra công tác tiếp nhận, tuyển dụng cán bộ; công tác đánh giá cán bộ; công tác quy hoạch cán bộ; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; công tác bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử; công tác điều động, luân chuyển cán bộ; việc phân công, phân cấp quản lý cán bộ; việc thực hiện chính sách cán bộ; công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII hiện nay, Ủy ban kiểm tra có nhiệm vụ tập trung kiểm tra những tổ chức đảng có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, vi phạm các nghị quyết; có dấu hiệu tham nhũng, “lợi ích nhóm”; có dấu hiệu vi phạm trong giải quyết tố cáo, khiếu nại, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của đảng viên và công dân.

(2) Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của ban Chấp hành Trung ương

Tổ chức đảng cấp dưới là đối tượng giám sát  của Ủy ban kiểm tra gồm tổ chức đảng do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp lập ra và cấp ủy, tổ chức đảng thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý của cấp ủy cùng cấp[9]. Nội dung kiểm tra gồm việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng cấp dưới theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của Ủy ban kiểm tra, xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ của cơ quan Ủy ban kiểm tra cấp dưới.

Ủy ban kiểm tra sẽ phân công thành viên ủy ban, cử cán bộ kiểm tra dự các hội nghị của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới. Thành viên ủy ban kiểm tra, đoàn giám sát và cán bộ kiểm tra được yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên giải trình, cung cấp tài liệu, báo cáo về các vấn đề giám sát; có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu và chịu trách nhiệm về việc giám sát trước ủy ban kiểm tra. Qua giám sát, phải kịp thời báo cáo để ủy ban kiểm tra kiến nghị cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên được giám sát phát huy ưu điểm, nhắc nhở, uốn nắn, khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm.

(2) Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật liên quan đến công tác cán bộ

Căn cứ kết quả kiểm tra, đề nghị của tổ chức đảng và kết luận của cơ quan pháp luật, nếu thấy đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì Ủy ban kiểm tra quyết định theo thẩm quyền hoặc đề nghị ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy, xem xét, quyết định kỷ luật.

(3) Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng liên quan đến công tác cán bộ

Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra nhằm phục vụ cho quá trình phát hiện các dấu hiệu vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và đặc biệt là liên quan đến công tác cán bộ nói riêng, Ủy ban kiểm tra sẽ kịp thời phát hiện các đảng viên, tổ chức đảng có hành vi vi phạm. Theo đó, khi nhận được tố cáo, Ủy ban kiểm tra sẽ phân loại, chuyển các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết hoặc phối hợp với các tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết.

Liên quan đến khiếu nại kỷ luật đảng, đây là công cụ quan trọng để duy trì một đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh. Duy trì kỷ luật nghiêm minh chính là sức mạnh của Đảng. Khi nhận được khiếu nại kỷ luật đảng phải báo cho người khiếu nại biết; hướng dẫn người khiếu nại thực hiện đúng quy định của Đảng nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết khiếu nại. Đảng viên bị kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật được khiếu nại lên các tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết cấp trên.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII, hoạt động giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật Đảng lại càng được chú trọng hơn bao giờ hết. Theo đó, việc giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng phải được tăng cường nhằm kịp thời nắm bắt và tổng hợp đầy đủ số lượng tố cáo liên quan đến tổ chức đảng, đảng viên, Việc khiếu nại kỷ luật đảng, tập trung giải quyết những tố cáo liên quan đến nhân sự cấp ủy khóa mới và đại biểu dự đại hội Đảng các cấp.

(4) Một số thẩm quyền khác liên quan đến công tác cán bộ chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đại biểu Toàn Quốc lần thứ XIII

Để chuẩn bị cho công tác nhân sự Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Ủy ban kiểm tra đã được giao một số nhiệm vụ sau[10]:

+ Tham gia nhận xét, đánh giá cán bộ phục vụ công tác nhân sự đại hội: Theo đó, Ủy ban kiểm tra sẽ đi sâu đánh giá việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quy định về trách nhiệm nêu gương và những điều cán bộ, đảng viên không được làm; việc thực hiện kê khai và công khai tài sản, thu nhập; uy tín trong cơ quan, đơn vị.

+ Thẩm tra tư cách tư cách đại biểu: Để giúp ban thẩm tra tư cách đại biểu tiến hành thẩm tra tư cách đại biểu theo quy định, trong quá trình chuẩn bị đại hội. Đối với những đảng viên liên quan đến nhân sự đại hội mà vi phạm pháp luật thì Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo các tổ chức đảng có liên quan thực hiện nghiêm quy định về đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng.

"Dấu ấn" của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ

Việc kiểm tra, giám sát công tác cán bộ luôn được Đảng đề cao và thực hiện trong nhiều năm qua. Cụ thể, Quyết định số 58-QĐ/TW ngày 07/5/2007 ban hành quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ.

Trên cơ sở đó, năm 2017, hoạt động rà soát, kiểm tra công tác cán bộ đã phát hiện rất nhiều các trường hợp tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ không đảm bảo đầy đủ điều kiện.

Để xử lý các trường hợp này, ngày 24/3/2020, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 71-KL/TW về xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức viên chức theo Thông báo kết luận số 43 ngày 28/12/2017 của Bộ Chính trị, theo đó, đối với trường hợp có kết luận vi phạm trong công tác tuyển dụng thì cương quyết thu hồi quyết định tuyển dụng, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các cấp ủy, tổ chức Đảng.

Trường hợp được tuyển dụng từ thời điểm 28/12/2017 về trước đã hoàn thiện đầy đủ tiêu chuẩn thì không thu hồi. Còn nếu chưa hoàn thiện thì chậm nhất đến ngày 31/12/2020 phải hoàn thiện. Nếu quá thời hạn thì phải thu hồi quyết định tuyển dụng. Đối với trường hợp tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức sau ngày 28/12/2017 không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục thì thu hồi quyết định tuyển dụng. .

Qua các báo cáo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương tại các kỳ họp cho thấy, kết quả kiểm tra, giám sát công tác cán bộ nói chung đã có những bước đột phá nhất định[11]. Kết quả là rất nhiều các vụ việc vi phạm về công tác cán bộ đã được phát hiện và xử lý kịp thời, các trường hợp bổ nhiệm sai quy trình, bổ nhiệm không đáp ứng các tiêu chuẩn chức danh đã bị thu hồi.

Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã thi hành kỷ luật hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý[12]. Có thể dẫn chứng bằng một số vụ việc cụ thể sau đây:

Vụ việc “lạm phát cấp phó, bổ nhiệm cán bộ sai quy trình” tại tỉnh Thanh Hóa:

Cụ thể, sau khi thanh tra, kiểm tra công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo Sở Xây dựng giai đoạn 2010-2015 thì cho thấy đã bổ nhiệm 55 cán bộ sai quy trình.

Sau khi có kết quả kiểm tra, Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa đã có thông báo về kết quả và xem xét xử lý đối với tổ chức đảng và đảng viên có liên quan tại Sở Xây dựng.

Cụ thể, ông Ngô Văn Tuấn, nguyên Giám đốc Sở Xây dựng (hiện là Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa) bị hình thức kỷ luật khiển trách. Ông Đào Vũ Việt, Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa hiện nay phải kiểm điểm sâu sắc.

Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa thống nhất khai trừ khỏi Đảng đối với một cán bộ đã xin nghỉ việc. Đồng thời, Ủy ban kiểm tra trung ương cũng đưa ra thông cáo báo chí một số vụ việc có biểu hiện vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật về điều kiện tiêu chuẩn, cán bộ, về những điều đảng viên không được làm.

Thi hành kỷ luật ông Huỳnh Quang Hải, Ủy viên ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính:

Theo Thông cáo Báo chí của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Huỳnh Quang Hải đã chấp hành không nghiêm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống và các quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và Bộ Tài chính.

Căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo ông Huỳnh Quang Hải[13].

Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La:

Theo kết luận kiểm tra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La đã chấp hành không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, thiếu lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong công tác cán bộ, thực hiện một số dự án đầu tư xây dựng, nhất là công tác tổ chức kỳ thi trung học phổ thông (THPT) quốc gia năm 2018.

Về trách nhiệm cá nhân,bà Phạm Văn Thủy, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo thi THPT và ông Hoàng Tiến Đức, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo, Chủ tịch Hội đồng, Trưởng Ban chấm thi THPT chịu trách nhiệm chính về những vi phạm trong công tác tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 tại tỉnh Sơn La, gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương và ngành Giáo dục, gây bức xúc trong xã hội, để nhiều cán bộ, đảng viên liên quan bị xử lý hình sự.

Ông Cầm Ngọc Minh, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và chịu trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của UBND tỉnh. Đồng chí Hoàng Văn Chất, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chịu trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La.

Căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đồng chí Phạm Văn Thủy; khiển trách đồng chí Cầm Ngọc Minh.UBKT Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Hoàng Tiến Đức; yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La và đồng chí Hoàng Văn Chất kiểm điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc và sớm có biện pháp khắc phục, sửa chữa trong thời gian tới[14].

Như vậy, có thể thấy, hoạt động kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra đảng trong công tác cán bộ đã đạt được một số thành tựu sau đây:

Thứ nhất, qua hoạt động kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra, rất nhiều các vụ việc vi phạm trong công tác cán bộ đã được phát hiện và xử lý kịp thời, đặc biệt là việc kiểm tra, giảm sát đảm bảo không có “vùng cấm” trong hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, từ cán bộ cấp trung ương đến cán bộ cấp địa phương.

Thứ hai, kết quả xử lý các vi phạm trong quá trình kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Ủy ban kiểm tra cũng đã tạo ra tính chất răn đe, ngăn ngừa kịp thời mức độ nghiêm trọng của các hành vi vi phạm, qua đó, tăng cường tính tuân thủ quy định kỷ luật của Đảng,

Thứ ba, hoạt động kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ cũng góp phần phát hiện những tấm gương tốt về thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên, đặc biệt trong hoạt động kiểm tra, giám sát - những đảng viên đám nghĩ, đám làm, dám bảo vệ cho lý tưởng, cho lợi ích của cộng đồng.

Một số khó khăn của Ủy ban kiểm tra trong công tác cán bộ và phương hướng khắc phục

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đã chỉ ra khá đầy đủ, rõ ràng thực trạng hiện nay của công tác cán bộ, đó là: “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”.

“Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”. “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Chính vì thế, có một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý, không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, phải thi hành kỷ luật... Những tồn tại, hạn chế trên đã ảnh hưởng rất lớn đến việc phát huy dân chủ trong công tác cán bộ thời gian vừa qua”.

Trước thực trạng công tác cán bộ còn nhiều hạn chế và bất cập như vậy, cần thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện, răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm các quy định về công tác cán bộ. Nói cách khác cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Ủy ban kiểm tra.

Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhất định trong hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ trong thời gian vừa qua, tuy vậy, hoạt động của hệ thống Ủy ban kiểm tra hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, trực tiếp tác động tới hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát nói chung và kiểm tra, giám sát công tác cán bộ nói riêng. Cụ thể là:

Thứ nhất, Ủy ban kiểm tra là cơ quan chuyên môn về kiểm tra, giám sát công tác cán bộ nhưng hoạt động và đặc biệt là nhân sự lại phụ thuộc vào cấp ủy, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của Ủy ban kiểm tra trong quá trình kiểm tra, giám sát công tác cán bộ.  

Hiện nay, có 3 mối quan hệ tác động tới hiệu quả hoạt động của Ủy ban kiểm tra, cụ thể như sau:

Về mối quan hệ nội bộ, Ủy ban kiểm tra hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Ủy ban kiểm tra chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra. Ủy ban có thể ủy quyền cho tập thể thường trực ủy ban (nơi có từ 2 phó chủ nhiệm trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể (theo quy chế làm việc của ủy ban và quy định chế độ làm việc của cơ quan Ủy ban kiểm tra)[15].

Về mối quan hệ với cấp ủy cùng cấp, Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp. Theo đó, Ủy ban kiểm tra có trách nhiệm định kỳ báo cáo với cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, về quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy.

Trường hợp Ủy ban kiểm tra và ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy có ý kiến khác nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kiểm tra thì Ủy ban kiểm tra phải chấp hành kết luận, quyết định của ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy, đồng thời báo cáo Ủy ban kiểm tra cấp trên. Trường hợp Ủy ban kiểm tra cấp trên có ý kiến khác với ban thường vụ, cấp ủy cấp dưới thì Ủy ban kiểm tra cấp trên báo cáo cấp ủy cùng cấp xem xét, quyết định. Trường hợp Ủy ban Kiểm tra Trung ương có ý kiến khác với tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương thì báo cáo Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định.

Về mối quan hệ với Ủy ban kiểm tra cấp trên, Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra cấp trên về phương hướng, nhiệm vụ, nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều lệ Đảng, của Trung ương và hướng dẫn của Ủy ban kiểm tra Trung ương.

Khi cần thiết, Ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Ủy ban kiểm tra cấp dưới. Ủy ban kiểm tra phối hợp với ban tổ chức của cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp dưới chuẩn bị nhân sự Ủy ban kiểm tra cấp dưới theo hướng dẫn của Ủy ban kiểm tra cấp trên; giúp cấp ủy ban hành quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra; kiện toàn cơ quan Ủy ban kiểm tra về tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra. Ủy ban Kiểm tra Trung ương phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn về tổ chức, bộ máy và cán bộ của cơ quan Ủy ban kiểm tra cấp dưới.

Như vậy, có thể thấy, hệ thống Ủy ban kiểm tra các cấp hiện nay vẫn đang được tổ chức theo hệ thống cấp ủy các cấp và có mối quan hệ công tác 2 chiều: chiều ngang và chiều dọc. Mặc dù, mối quan hệ công tác 2 chiều là đặc trưng thường thấy ở các cơ quan của Đảng và Nhà nước ở Việt Nam.

Và mặc dù chịu sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp, Ủy ban kiểm tra cũng có sự chủ động nhất định trong hoạt động kiểm tra, giám sát theo đúng nhiệm vụ, quyền hạn do Điều lệ Đảng quy định, theo sự chỉ đạo của Ủy ban kiểm tra cấp trên. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào mức độ chủ động của Ủy ban kiểm tra của từng cấp.

Do đó, đối với một cơ quan chuyên môn về kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật Đảng như Ủy ban kiểm tra thì điều này có thể tạo ra một số hạn chế. Ví dụ như các quyết định về công tác cán bộ thường là do cấp ủy thực hiện nhưng cấp ủy lại đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo Ủy ban kiểm tra cùng cấp để thực hiện việc kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, trong đó có kiểm tra, giám sát các quyết định của cấp ủy. Điều này làm giảm tính độc lập, khách quan của các hoạt động kiểm tra, giám sát.

Đó là chưa tính đến việc một số ủy viên trong Ủy ban kiểm tra là kiêm nhiệm. Việc kiêm nhiệm có thể mang lại lợi ích nếu như ủy viên Ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm là thanh tra vì chức năng và nhiệm vụ không mâu thuẫn nhau, thậm chí còn hỗ trợ nhau, tuy nhiên, nếu ủy viên Ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm ở các vị trí có thẩm quyền quyết định công tác cán bộ thì có thể có sự mâu thuẫn về nhiệm vụ và quyền hạn. Điều này cũng ảnh hưởng tới tính độc lập và khách quan trong hoạt động của Ủy ban kiểm tra.

Do đó, để tăng cường tính độc lập, khách quan của Ủy ban kiểm tra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng, cần thiết xem xét để thay đổi mô hình tổ chức và hoạt động hiện nay của Ủy ban kiểm tra theo hướng là hệ thống cơ quan độc lập từ trung ương đến địa phương, trực tiếp chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương, đồng thời hạn chế chế độ kiêm nhiệm đối với các ủy viên của Ủy ban kiểm tra nhằm tạo ra sự độc lập tương đối giữa chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra.

Thứ hai, việc kiểm tra, giám sát công tác cán bộ phải dựa trên các tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá và xếp loại cán bộ, tuy nhiên, nhiệm vụ và quyền hạn của từng chức danh lại chưa được quy định một cách cụ thể trong hệ thống hành chính, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ.

Mặc dù, trên thực tế, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4/8/2017 về tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4/8/2017, về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

Theo đó, về tiêu chuẩn chức danh, cán bộ lãnh đạo quản lý phải đáp ứng 5 tiêu chí gồm (1) Tiêu chí về chính trị tư tưởng, (2) Tiêu chí về đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, (3) Tiêu chí về trình độ, (4) Tiêu chí về năng lực và uy tín, (5) Tiêu chí về sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm. Về tiêu chí đánh giá cán bộ, việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý dựa trên 2 nhóm tiêu chí cơ bản gồm (1) Nhóm tiêu chí về chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; (2) Nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Về tiêu chí xếp loại cán bộ, việc xếp loại cán bộ lãnh đạo, quản lý được chia thành 4 bậc gồm (1) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; (2) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (3) Hoàn thành nhiệm vụ; (4) Không hoàn thành nhiệm vụ.

Có thể thấy, việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý đã dựa trên kết quả đầu ra của việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà vị trí lãnh đạo, quản lý đòi hỏi đối với người cán bộ. Đồng thời, nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao còn được phân chia thành tiêu chí chung và tiêu chí đặc thù theo từng nhóm chức danh cán bộ để phù hợp với đặc thù nghề nghiệp của từng chức danh.

Mỗi bậc xếp loại được căn cứ dựa sự kết hợp giữa các tiêu chí định tính và định lượng, giữa mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Việc ban hành các tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ như trên là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện các dấu hiệu vi phạm các quy định về tiêu chuẩn chức danh và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên, tổ chức đảng.

Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh chung hiện nay là việc đánh giá cán bộ, công chức nói chung và đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng chưa gắn với vị trí việc làm (Đề án vị trí việc làm đang trong quá trình xây dựng), do đó, nội dung đánh giá cán bộ còn chung chung, thiếu các tiêu chí đánh giá hoàn thành công việc cụ thể. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn cán bộ, từ đó là cơ sở cho hoạt động kiểm tra, giám sát công tác cán bộ của Ủy ban kiểm tra.

Do đó, trong thời gian tới, việc xây dựng đề án vị trí việc làm cần phải được các ban của Đảng và các tổ chức đảng đặc biệt lưu ý để thông qua công tác lãnh đạo của mình đối với các cơ quan có liên quan đến công tác cán bộ trong hệ thống hành chính để đẩy mạnh hoạt động xây dựng và hoàn thiện đề án vị trí việc làm, đổi mới hệ thống chức nghiệp nói chung, từ đó, là cơ sở để cụ thể hóa các tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý và tiêu chí đánh giá cán bộ nói riêng.

Danh mục tài liệu tham khảo:

  1. Cao Văn Thống (2020), Thành tựu và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng tạo động lực va niềm tin cho sự nghiệp cách mạng thời gian tới, http://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/thanh-tuu-va-kinh-nghiem-trong-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-va-ky-luat-dang-tao-dong-luc-va-niem-tin-cho-su-nghiep-cach-mang-thoi-gian-toi;
  2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011;
  3. Hướng dẫn số 07-HD/UBKTTW của Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngày 12/12/2019 hướng dẫn công tác kiểm tra, giám sát phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
  4. Kết luận số 71-KL/TW về xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức viên chức theo Thông báo kết luận số 43 ngày 28/12/2017 của Bộ Chính trị;
  5. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”;
  6. Thông cáo Báo chí tại các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương http://ubkttw.vn/;
  7. Quy định số 29-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 25/7/2016 quy định thi hành Điều lệ Đảng;
  8. Quy định số 30-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/7/2016 về thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng;
  9. Quy định số 179-QĐ/TW ngày 25/02/2019 của Ban chấp hành Trung ương về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ;
  10. Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4/8/2017 về tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp;
  11. Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4/8/2017, về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý;
  12. Quyết định số 60-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/12/2016 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương;

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.309

[2] Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”

[3] Khoản 1.2 Điều 31 Quy định số 30-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/7/2016 về thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

[4] Quyết định số 60-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/12/2016 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

[5] Điểm 14 Quy định số 29-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 25/7/2016 quy định thi hành Điều lệ Đảng

Điều 31 Quy định số 30-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/7/2016 quy định thi hành Chương VII và CHương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Ví dụ, Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc trung ương có số lượng từ 9 đến 11 ủy viên (trong đó có 2 ủy viên kiểm chức, riêng Thành ủy Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh số lượng từ 13 đến 15 ủy viên). Trong đó, các ủy viên chuyên trách gồm Chủ nhiệm (là một ủy viên Ban thường vụ cấp ủy), từ 2 đến 3 phó Chủ nhiệm và một số ủy viên. Trong đó có một số ủy viên kiểm chức gồm Trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức của cấp ủy và chánh thanh tra tỉnh, thành phố

Trong khi đó, ở cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, số lượng ủy viên của Ủy ban kiểm tra là từ 7 đến 9 ủy viên (do cấp ủy quyết định); trong đó đồng chí chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy, từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên chuyên trách; 2 ủy viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp (nơi không có chánh thanh tra cùng cấp là đồng chí phó bí thư của cấp ủy trực thuộc).

Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp trên cơ sở: Số lượng từ 5 đến 7 ủy viên (do cấp ủy cấp trên cơ sở quyết định), trong đó chủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp ủy, có từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là chuyên trách) và một số ủy viên chuyên trách. Ủy viên kiêm chức gồm đồng chí trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp (nơi không có chánh thanh tra cùng cấp là đồng chí phó bí thư hoặc chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc).

Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở: Số lượng từ 3 đến 5 ủy viên (do đảng ủy cơ sở quyết định), trong đó đồng chí phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ, thường trực cấp ủy làm chủ nhiệm. Trường hợp không có ban thường vụ cấp ủy thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm; phó chủ nhiệm là cấp ủy viên hoặc đảng viên Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.

Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn; những tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên thì bố trí 1 ủy viên chuyên trách làm phó chủ nhiệm.

[6] Điều 31, Quy định số 30/ QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/7/2016 quy định thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

[7] Quy định số 179-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ

[8]Điều 32 Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26/07/2016 của Ban chấp hành Trung ương quy định thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng

[9] Khoản 2 Điều 32 Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26/07/2016 của Ban chấp hành Trung ương quy định thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng

[10] Hướng dẫn số 07-HD/UBKTTW của Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngày 12/12/2019 hướng dẫn công tác kiểm tra, giám sát phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

[11] Thông cáo Báo chí tại các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương http://ubkttw.vn/

[12]https://binhphuoc.gov.vn/snv/tin-trong-nganh/day-manh-tuyen-truyen-ve-kiem-soat-quyen-luc-trong-cong-tac-can-bo-va-chong-chay-chuc-chay-quyen-126.html

[13] Thông cáo báo chí kỳ họp 36 của Ủy ban kiểm tra trung ương Đảng

[14] Thông cáo báo chí Kỳ họp thứ 36 của Ủy ban kiểm tra Đảng

[15] Quy định số 30-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/7/2016 về thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Tin liên quan

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Xem nhiều nhất