Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam: Hành động phi lý và sai trái

Khánh Ly (thực hiện)

"Trung Quốc thành lập các quận “Tây Sa”, “Nam Sa” trên Biển Đông là nhằm củng cố hồ sơ pháp lý cho yêu sách chủ quyền phi lý của mình. Đây là những bước đi có tính toán kỹ nhằm độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ và có những động thái cụ thể để chặn đứng âm mưu này" - TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới của Chính phủ chia sẻ với Đại Đoàn Kết.

Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền  đối với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam: Hành động phi lý và sai trái

Ông Trần Công Trục.

PV: Liên tiếp các hành động gây hấn ở Biển Đông và mới đây nhất Trung Quốc ra quyết định thành lập các đơn vị hành chính với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, vì sao họ liên tiếp có những hành vi bất chấp luật pháp quốc tế như vậy, thưa ông?

TS Trần Công Trục: Việc Trung Quốc ra quyết định thành lập các đơn vị hành chính đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam là mưu đồ họ theo đuổi từ  lâu. Tôi nghĩ rằng, ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ  lực chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1974 và chiếm các đảo thuộc Trường Sa năm 1988, họ luôn muốn hợp thức hóa những hành động vũ lực đó bằng các biện pháp hành chính, dân sự, pháp lý. Thực tế họ đã  thành lập các đơn vị hành chính ở đây từ những năm 1990 của thế kỷ trước, sau khi hoàn thành chiếm đóng bằng quân sự ở hai quần đảo này.

Năm 2012, sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển,  như một hành động trả đũa, Trung Quốc tuyên bố  thành lập cái gọi là “ Thành phố Tam Sa” để  “quản lý” quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam), Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) và  Trung Sa (bãi Macclesfield). Tháng 9/2017, họ đưa ra chiến thuật mới là “Yêu sách Tứ Sa”, đòi hỏi chủ quyền với 4 nhóm đảo gồm 3 nhóm trên và thêm Đông Sa (quần đảo Pratas hiện do Đài Loan quản lý), đòi hỏi quyền được hưởng vùng đặc quyền kinh tế xung quanh 4 nhóm này. Đó là một vài mốc trong chuỗi hành động của họ và mỗi lần chúng ta đều có công hàm phản đối mạnh mẽ. Lần này họ tiếp tục công bố phê duyệt thành lập đơn vị hành chính cấp huyện, nâng cấp đơn vị hành chính để thay mặt Nhà nước Trung Quốc đòi “quản lý” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Rõ ràng Trung Quốc đang có những hành động phi pháp, vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ở Biển Đông, nhưng không hề có một chứng cứ cụ thể nào chứng minh 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ?

- Đúng vậy, Trung Quốc xưa nay luôn lập luận việc đòi hỏi chủ quyền dựa trên lịch sử. Họ dùng tất cả tài liệu lịch sử có được để nói người Trung Quốc đã phát hiện, khai phá, quản lý Hoàng Sa và Trường Sa từ trước Công nguyên. Nhưng thật ra họ chưa đưa được một bằng chứng pháp lý nào kể cả trong sử sách, là Nhà nước Trung Quốc đã tổ chức các đơn vị hành chính ở đây, tư liệu lịch sử và bản đồ của người Trung Quốc xuất bản chính thức không thể hiện được điều đó.

Các tư liệu của Trung Quốc cho đến nay, kể cả tư liệu trong cuộc trưng bày bản đồ do Chánh án Tòa án Tối cao Philippines tổ chức, cho thấy bản đồ Trung Quốc chỉ vẽ cực nam nước này là đến  phía Nam đảo Hải Nam. Trung Quốc. Thiếu bằng chứng chứng minh, nên giờ họ đang bổ sung khoảng trống, điểm đen trong hồ sơ pháp lý, tiếp tục củng cố yêu sách chủ quyền của họ. Tuy nhiên, không có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, việc họ tuyên bố thành lập các quận để quản lý Hoàng Sa và Trường Sa là rất phi lý và sai trái.

Vậy có nghĩa, Việt Nam hoàn toàn có những chứng cứ xác thực, thưa ông?

- Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý chứng minh chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu là lãnh thổ trong một quốc gia có chủ quyền, Nhà nước ấy có quyền sáp nhập, tách ra, tổ chức đơn vị hành chính phù hợp với địa lý, dân cư, trong phạm vi quyền hạn của Nhà nước đó. Việt Nam cũng vậy, từ xưa trong thời kỳ phong kiến, các Vua, Chúa nhà Nguyễn đã thiết lập ra những đơn vị hành chính  ở Hoàng Sa và Trường Sa để quản lý 2 quần đảo này dưới danh nghĩa nhà nước có chủ quyền. quản lý. Thời Pháp, với tư cách đại diện cho Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, cũng ban hành những quyết định hành chính, ra những tuyên bố thực thi chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa. Vua Bảo Đại năm 1938 cũng quyết định tách Hoàng Sa khỏi Quảng Ngãi và nhập về Thừa Thiên.

Khi thống nhất đất nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định thành lập các đơn vị hành chính, đặc biệt năm  1982 Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa và Trường Sa, mà nay huyện Hoàng Sa thuộc Đà Nẵng, huyên Trường Sa thuộc Khánh Hòa.

Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền  đối với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam: Hành động phi lý và sai trái - 1

Đá Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng và xây thành đảo nhân tạo trái phép. Ảnh chụp màn hình SCMP/Báo Thanh Niên.

Việc Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông thì không có gì lạ, nhưng vì sao họ lại thực hiện vào thời điểm này, thưa ông?

- Trung Quốc tuyên bố thành lập các đơn vị hành chính cấp quận, huyện ở Trường Sa và Hoàng Sa trong  lúc này, tiếp đó là việc họ đặt tên cho hàng chục đảo và thực thể trên Biển Đông là có ý đồ sâu xa của họ.  

Thứ nhất, hãy xét đến bối cảnh Việt Nam  mới gửi Công hàm lên LHQ trong đó có 2 nội dung: Phản đối các yêu sách của Trung Quốc, tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa; xác định hiệu lực Điều 121 Khoản 3 của Công ước Luật Biển LHQ 1982 đối với các cấu trúc địa lý có thể tính đến vùng biển. Việt Nam khẳng định các bãi ngầm hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi  theo định nghĩa đó không phải đối tượng đê thưc hiên quyền thụ đắc lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào. 

Trung Quốc mở rộng “quyền quản lý” ở Trường Sa và Hoàng Sa là nhằm mục đích nói ở đó có đời sống kinh tế, có chính quyền, đủ điều kiện để khẳng định việc vận dụng Công ước Luật Biển 1982 nhằm nói việc họ xác định phạm vi vùng biển kế cận ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phù hợp với Điều 121, Khoản 3, UNCLOS 1982.

Thứ hai, lúc này thế giới lao đao bởi dịch Covid-19, các nước đều bị Covid-19 ảnh hưởng tai hại đến tính mạng, kinh tế, có thể có nguy cơ suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Trung Quốc đang lợi dụng tình hình đó tính đến bước tiến mới hơn, mạnh hơn. Từ đầu năm đến giờ họ liên tục gây hấn, như cấm đánh bắt cá, húc chìm tàu cá Việt Nam, đưa tàu Hải Dương địa chất 08 xuống phía Nam Biển Đông...Trung Quốc đang tính toán áp dụng kế sách “mượn gió bẻ măng” trong lúc lực lượng an ninh, kinh tế, quốc phòng của nhiều quốc gia đang dồn lực chống Covid-19. 

Trước đây trong lịch sử, năm 1974, năm 1988 khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa họ cũng tính toan lợi dụng những điều kiện thuận cho họ. Họ tung luận điệu Việt Nam Cộng hòa, hay năm 1988 họ rêu rao Việt Nam “vi phạm chủ quyền” của Trung Quốc, nên Trung Quốc có quyền dùng tất cả mọi cách để thu hồi lãnh thổ đã mất, kể cả đánh chiếm.

Thứ ba, vừa rồi họ nói tàu cá Việt Nam thực hiện công việc tình báo, thăm dò cơ sở Trung Quốc, vi phạm lãnh thổ Trung Quốc và sẵn sàng đánh trả. Thực tế họ đã làm vậy để thăm dò phản ứng quốc tế. Trung Quốc đã có những hoạt động được tính toán đồng bộ trên mọi mặt trận ngoại giao, pháp lý, truyền thông cùng với hành động trên biển.

Việt Nam cần làm gì để chặn đứng âm mưu này của Trung Quốc, thưa ông?

- Thời gian qua, các nước trên thế giới và khu vực, nhất là Hoa Kỳ, Philippines đã kịp thời lên tiếng ủng hộ lập trường của Việt Nam, lên án mạnh mẽ những hoạt động phi pháp của Trung Quốc trong Biển Đông. Nội dung trong các tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao gần đây, đặc biệt là nội dung Công hàm ngày 30-3 của Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ gửi Tổng Thư ký LHQ cũng đã thể hiện lập trường, quan điểm pháp lý một cách chính xác, rõ ràng, cụ thể về vấn đề Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Chúng ta cũng cần tiếp tục công khai các thông tin đúng sự thật, nói rõ đúng sai, thượng tôn pháp luật, thể hiện thiện chí và trách nhiệm của Việt Nam đối với khu vực và thế giới, góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhiều người Việt ở nước ngoài, cũng như cộng đồng quốc tế trong vấn đề này. Khi Việt Nam có chính nghĩa và thiện chí, các nước khác sẽ ủng hộ Việt Nam. Khi dư luận quốc tế ủng hộ Việt Nam, đó là nguồn sức mạnh giúp chúng ta bảo vệ và quản lý được các quyền và lợi ích hợp pháp trên Biển Đông.

Trân trọng cảm ơn ông!

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Xem nhiều nhất